NGUYỄN VĂN TƯỜNG TƯ THÔNG VỚI HỌC PHI, GIẾT KIẾN PHÚC? - KỲ 1

04/08/2020


 

     Phụ chánh Nguyễn Văn Tường đã bị quan chức Pháp và sử sách thuộc địa đồng lõa bôi nhọ. Có lẽ thâm độc nhất là lời tố cáo ông đã giết vua Kiến Phúc để che giấu quan hệ tình dục giữa ông với bà Học Phi, mẹ nuôi của vua. Bà này là vợ thứ ba của vua Tự Đức, và đã trở thành Hoàng Thái phi sau khi vua Kiến Phúc lên ngôi.

A. CÁI CHẾT BÌNH THƯỜNG VÌ BỆNH CỦA VUA KIẾN PHÚC

     Theo mọi nguồn tin đứng đắn thì vua Kiến Phúc, được tôn lên ngôi báu sau cuộc đảo chánh vua Hiệp Hòa, đã đau bệnh mà chết.

1. Theo chính sử nhà Nguyễn

     Vua Kiến Phúc, sinh ngày 12-2-1869, lên ngôi thay vua Hiệp Hòa ngày 2-12-1883, và mất ngày 31-7-1884 sau 8 tháng tại vị.(1) Theo bộ chính sử, Đại Nam thực lục, thì vào đầu tháng 5 năm 1884, "Vua se mình, văn võ các quan hợp lời tâu xin vua ở trong cung tĩnh dưỡng yên nghỉ, lại xin ý chỉ Từ Dụ Thái hoàng Thái hậu sai bọn Phạm Viết Trang, Bùi Ân Niên, Nguyễn Hanh, Chu Đình Kế kính đến miếu hội đồng mật đảo 2 lần, hơn một tháng, mình vua yên khỏe, chuẩn cho làm lễ để tạ.”(2) Rồi về cái chết của ngài xảy ra gần ba tháng sau, sử kể tiếp:

"Vua không khỏe, tháng tư trước, ngọc thể vi hòa, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo các linh từ, sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ, đến ngày mồng bảy tháng này, ngày Kỷ Mão mới ngự điện Văn Minh. Chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng mười nhâm ngọ, bệnh kịch, giờ Ngọ hôm ấy vua mất ở chính tẩm điện Kiến Thành."(3)

2. Theo nhân chứng trong Triều Nguyễn

     Hạnh thục ca của tác giả Nguyễn Nhược Thị, bí thư của Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, cũng có tường thuật việc vua Kiến Phúc mất vì bệnh như sau:

...
Nào ngờ nhiều nỗi chẳng may,
Trị vì sáu tháng bệnh rày lại mang
Hết lòng khấn vái thuốc thang,
Gẫm âu số mệnh đành khôn cải trời.
Nương mây phút sớm tếch vời,
Năm thân tháng sáu rụng rời cành xuân.(4)

     Đoạn vè trên đây nói đúng như chính Thực lục đã kể, là vua bắt đầu bị bệnh khoảng sáu tháng sau ngày bắt đầu trị vì. Vua nhận tỷ ngọc ấnvàng truyền quốc ngày Mậu Dần, mồng 1 tháng Mười một năm thứ 36, và lên ngôi Hoàng đế ngày Canh Thìn, hai ngày sau, tức ngày 2-12-1883.(5) Như vậy, có nghĩa là vua khởi sự mang bệnh vào đầu tháng Tư năm Giáp Thân, Kiến Phúc năm thứ nhất, hay đầu tháng 5 năm 1884. Bệnh tình dây dưa rồi trở nặng và vua băng vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân, tức ngày 31-7-1884.

     Các tin này quả ăn khớp với một tin lưu trữ trong văn khố hải ngoại Pháp nói rằng Sứ thần Patenôtre, sau khi ký xong Hiệp ước Bảo hộ ngày 6-6-1884 ở Huế, đã không diện kiến được vua Kiến Phúc vào ngày 8 sau đó, như đã hứa, vì “vị vua trẻ lúc ấy chưa bình phục khỏi chứng ban đỏ [scarlatine] bị nhiễm từ khoảng giữa tháng 5."(6)

3. Theo Tổng Trú sứ Rheinart và các viên chức Pháp ở Huế

     Hôm 1-8-1884, một ngày sau khi vua Kiến Phúc thăng hà, quyền Tổng Trú sứ Rheinart ghi chú rằng vua mất vì bệnh một cách bình thường như sau:

"Vua Kiến Phước mất ngày hôm qua lúc đứng bóng sau khi cơn bệnh trở lại trong một thời gian rất ngắn. Tôi đã đánh điện đi Paris và Hà-nội để báo tin. Vị vua trẻ tuổi, theo tôi tưởng, đã bị một bệnh về óc não hay tủy xương sống [maladie du cerveau ou de la moelle épinière][1] {ct. của Sogny) Cha của vua đã mất vì bệnh điên. Cái chết của vua là một cái chết tự nhiên [mort naturelle], nhưng nó đã đến một cách quá bất ngờ làm cho mọi người kinh ngạc. Đứa trẻ đáng thương đã làm vua một cách miễn cưỡng: nó sống trong sự kinh hoàng, luôn luôn lo sợ bị một số phận như người tiền nhiệm, buồn bực, trầm mặc, trốn tránh mọi người. Trong một thời gian khá lâu nó không dậy nổi, tôi không biết nó có thể đứng lên mà không cần người đỡ không, từ lúc bị bệnh, nghĩa là từ ba tháng nay..."(7)

     Về sau, khi vua Đồng Khánh, anh ruột cùng mẹ của vua Kiến Phúc, mất lúc mới 25 tuổi và vua Thành Thái lên ngôi, Ô. Rheinart, lúc đó làm Tổng Trú sứ Pháp ở Huế, cũng lặp lại thuyết bệnh di truyền trong báo cáo gởi cho Toàn quyền như sau: “Mến, người đã trị vì dưới niên hiệu Kiến Phước... đã chết lúc 16 tuổi vì một bệnh tủy xương sống... [] Ưng Lịch, người đã trị vì dưới niên hiệu Hàm Nghi, đã từng được coi như là con tư sinh [adultérin]. và tránh được vấn đề di truyền bệnh xấu đó.”(8) Những lời ghi chú này của Ô Rheinart, một viên chức thuộc địa rất kiên cường trong việc tìm cách dựng lên một ông vua làm tay sai cho Pháp, như đã nói trong Chương 1 và sẽ nói trong Chương 4, dù chứa đựng nhiều thiên kiến và sai lạc, đã công nhận là cái chết của vua Kiến Phúc không có gì là mờ ám. Trước đó gần hai tháng, khi Đại sử Patenôtre cùng Ô. Rheinart đến Huế để ký Hiệp ước 6-6-1884, hai ông đã biết là vua Kiến Phúc bị bệnh sắp chết, nên đã cùng nhau tìm cách tiếp xúc với độ 30 vị hoàng thân có cơ thừa kế ngôi vua, để áp đặt một ông vua bù nhìn thân Pháp, như Ô. Patenotre đã kể.(9)

     Người tiền nhiệm của Ô. Rheinart là quyền đại lý Parreau cũng có xác nhận trong một điện tín, đề ngày 18-5-1884 từ Thuận An, gởi về bộ Hải quân và Thuộc địa, về bệnh tình trầm trọng của vua, nguyên văn như sau:

"Sức khỏe của vua An Nam đã gây nên những mối lo ngại hết sức quan trọng. Vị vua, mắc bệnh ban đỏ [scarlatine], đã trải qua một cơn biến rất nặng [crise très grave] vào một trong những đêm vừa qua. Trong một thời gian, ngài được coi như là đã chết [Pendant quelque temps, il a passé pour mort]. Hình như ngài đã qua khỏi cơn nguy biển hôm nay [Il parait aujourd'hui hors de danger]. Chính tôi cũng mới được bình phục khỏi bệnh, tám ngày sốt liên tục với mê sảng. Nay đã mạnh."(10)

     Ô. de Champeaux, người đã từng thay thế Ô. Rheinart trong chức vụ Đại lý Pháp ở Huế từ tháng 10 năm 1880 đến tháng 8 năm 1881, và làm Khâm sứ dưới Triều Hiệp Hòa và phần đầu của Triều Kiến Phúc, cũng đã xác nhận rằng vua Hiệp Hòa bị cho uống thuốc độc còn “Mệ Mến”, tức vua "Kiến Phước", chết một cái chết tự nhiên.(11)

     Cái chết của vua Kiến Phúc là một sự mất mát, thiệt hại lớn lao cho phe chống Pháp, do hai phụ chánh Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo, sau khi lật đổ vua Hiệp Hòa đã âm mưu đi với Pháp. Nhưng đối với người Pháp thuộc địa, thì đó là cơ hội tốt để họ tìm cách bôi nhọ Ô. Nguyễn Văn Tường.

 

B.  BỘ MÁY TUYÊN TRUYỀN PHÁP VÀ CÁI CHẾT CỦA VUA KIẾN PHÚC

     Thật vậy, cơ quan chiến tranh chính trị của Pháp đã tìm mọi cách bóp méo sự thật.

1. Theo ông Chánh Sở Mật thám An Nam, Sogny

     Trong phần trích dẫn nói trên về lời ghi chú ngày 1-8-1884 của Ô. Rheinart, Ô. Sogny, Chánh sở Mật thám Trung Kỳ và là người bình giải cuốn nhật ký của Ô. Rheinart đăng trong BAVH năm 1943 vừa kể, đã không ngần ngại đánh một chú thích 1 nói rằng "Các giới An Nam, thạo tin nhất không hề do dự rằng [cái chết đó] là do một sự đầu độc. Lúc đó vua 14 tuổi." (12) Trong một chú thích ở chỗ khác trong bài đó, Ô. Sogny nói rằng Ô. Nguyễn Văn Tường, mà thiên hạ đồn là có tư thông với bà mẹ nuôi của vua, đã ra lệnh giam ngài Kiến Phúc ngay trong lúc ông này làm vua, hầu đưa con mình lên thay; đồng thời Ô. Sogny cũng nói rằng, bằng cách thủ tiêu vua Kiến Phúc, các Phụ chánh muốn hủy bỏ Hiệp ước 1884 đã được vị vua trẻ này ký. (13) Rồi ở một chú thích khác, ông Chánh sở Mật thám nói thêm rằng vua Kiến Phước bị đầu độc “theo lệnh của một Phụ chánh." (14)

2. Theo Linh mục Adolphe Delvaux với 3 tin trái ngược nhau

     Năm 1941, Linh mục Delvaux của Hội Truyền giáo Hải Ngoại Paris viết trong BAVH rằng, theo tin đồn, vua Kiến Phúc bị đầu độc. Sau khi nói rằng bà Học Phi, vợ thứ ba của vua Tự Đức, đã nhận vua Kiến Phúc, lúc còn là hoàng tử, làm con nuôi và dạy dỗ ngài, nên rất được ngài tín nhiệm, tác giả kể tiếp:

Nguyễn-Văn-Tường đã có biết bà Học-Phi từ một thời gian nào; những kẻ xấu miệng kể thì thầm rằng ông có đối với bà nhiều hơn là chỉ một sự tôn kính. [de mauvaises langues racontaient même tout bas qu'il avait pour elle plus que des égards]...

Ông không quên một cơ hội nào để gặp bà, và khi vua bị bệnh đậu mùa [petite vérole], Tường càng chuyên cần gấp bội trong việc đến gần vua và gần người đàn bà săn sóc vua. Vua đã nhiều lần để ý thấy ông phụ chánh trao điếu thuốc đang cháy cho bà mẹ nuôi mình; nhưng ngài không nói gì cả. Một đêm nọ vua có vẻ thiêm thiếp ngủ, ngày đã có thể nghe được câu chuyện giữa hai người. Sau khi để cho Tường nói một lúc, ngài bỗng hét lên: 'Tao lành, tao chặt đầu cả ba họ' [Une fois que je serais remis, je vous ferais couper la tête, à vous et à vos fils [litt: à trois générations].

Vị Phụ chánh cảm thấy mình bị nguy khốn. Thay vì bỏ trốn, phải chăng nên thủ tiêu kẻ địch của mình? Ông đi xuống viện Thái Y, nhà thuốc của hoàng gia: thuốc đã sắc sẵn cho vua; nhận thấy thuốc đó không tốt, ông chế theo kiểu của ông. Theo lời khuyên của bà Học-Phi, vua uống thuốc mới, và sáng mai lại, người ta thấy vua chết một cách đột ngột.(15)

     Một điều đáng lưu ý là tác giả Delvaux, trong một bài khác, viết về cái chết của Ô. Nguyễn Văn Tường, có nói rằng vị Phụ chánh này đã bóp cổ vua Kiến Phúc chết, chớ không phải đầu độc như chính tác giả đã kể theo tin đồn trong bài nói trên. Ở đây, tác giả nhớ lộn rằng vua là rể của Ô. Tường và nói rằng "... người con rể bất hạnh của ông, vua Kiến Phúc, bị chính người cha vợ bóp cổ...[.. son information gendre, le roi Kiến-Phúc, étranglé par son propre beau père...]”(16) (Về việc nói vua bị Ô. Tường bóp cổ chết này, tác giả Delvaux chỉ xác quyết như thế mà không nói nguồn tin ở đâu, nên việc phối kiểm có phần khó khăn vì không thấy sách vở nào nói như vậy. Chỉ có thể suy đoán là vị linh mục đã dựa vào sách của Bouinais và Paulus).(17) Đó là một công trình rất phong phú về tài liệu xuyên tạc, mà sử gia Tiến sĩ Charles Maybon đã minh thị xác quyết rằng mình cố ý loại ra khỏi các sách tham khảo để viết cuốn sử bậc nhất về Việt Nam.(18) Trong sách này, Ô. Bouinais, một Sĩ quan Hải quân Chánh võ phòng của Thống đốc Nam kỳ Thomson, có nói, theo tin đồn sai lạc, rằng Ô. Nguyễn Văn Tường đã bóp cổ vua Hiệp Hòa, (19) nhưng có lẽ LM Delvaux nhớ lộn là bóp cổ vua Kiến Phúc. Rồi có thể vì chị ruột của vua Kiến Phúc và vua Đồng Khánh, bà Công nữ Như Khuê là dâu của Ô. Tường, vị linh mục nhớ lầm lẫn thành ra vua Kiến Phúc là rể Ô. Tường. Đó chỉ là sự phỏng đoán của người viết, có thể không đúng sự thực. Dù sao, khi đưa ra một lời tố cáo khác thường như vậy mà không cho biết xuất xứ, thì quả thật tác giả đã không tôn trọng các quy tắc sưu khảo chút nào.

     Hơn nữa, trước đó, vào 1916, trong một bài khảo luận về Sứ quán Pháp ở Huế và các vị Sứ giả đầu tiên, tác giả Delvaux lại đưa ra một tin khá ngộ nghĩnh về cái chết của vua Kiến Phúc, khác hẳn với các tin mà chính mình nói ở trên - đầu độc hay bóp cổ. Theo luận cứ này thì hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã thủ tiêu vua Kiến Phúc để ngăn ngừa quân Pháp vào đóng ở Mang Cá theo Hiệp ước 1884, vì theo tác giả, các Phụ chánh nghĩ rằng văn kiện này đã được ký nhân danh vua Kiến Phúc, vậy nếu nay vua mất thì hiệp ước tất cũng không còn. Thật vậy, sau khi kể rằng một Đại đội Thủy quân lục chiến Pháp đến Huế vào giữa tháng 6 năm 1884 để trở thành đoàn quân bảo vệ vị Tổng Trú sứ ở Huế và đóng ở Mang Cá, chiếu theo Hiệp ước 6-6-1884, tác giả nói tiếp:

Hai phụ chánh Tường và Thuyết dùng mọi cách để ngăn cản sự chiếm đóng đó, nếu không trực tiếp, thì ít nhứt cũng bằng một cách vòng vo. Theo họ, cần phải thủ tiêu hiệp ước, và, để đi đến chỗ đó, các ông chỉ thấy còn một cách thủ tiêu Kiến Phúc vì hiệp ước đã được ký kết nhân danh vị vua này. Vào những ngày đầu tháng Tám, người ta nghe rằng vua đã mất trong đêm 31 tháng Bảy, "sau một cơn bệnh lâu dài" và ngay ngày sau đã được em ngài là Ưng Lịch [Hàm Nghi] thay thế.(20)

3. Đánh giá sự trung thực của các nguồn tin của LM Delvaux

     Tác giả Delvaux đưa ra luận cứ này dựa theo cuốn La guerre du Tonkin (21)

     a. Tường thuật méo mó của tác giả Lucien Huard

Cuốn sách nặc danh này có thể đã dựa vào cuốn, La guerre illustrée. Chine. Tonkin. Annam của tác giả Lucien Huard (22) để đưa ra luận cứ đó. Theo lời tác giả Huard, được tác giả Cosserat viện dẫn, sau khi “một linh mục phá giới An Nam" [Nguyễn Hữu Thơ] được Ô. Nguyễn Văn Tường phái tới thông báo cho Tổng Trú sứ Rheinart rằng vua Hàm Nghi đã lên ngôi kế vị vua Kiến Phúc mới mất thì “Ô. Rheinart phản kháng và cáo tri cho ông Phụ chánh rằng, thiếu một sự tấn phong của cường quốc bảo hộ, vua mới không thể trị vì được." Và “Ô. Phụ chánh trả lời rằng hiệp ước không còn nữa, vì người ký nó [Vua Kiến Phúc, mất một cách bí mật trong những ngày cuối tháng 7 năm 1884, ct. của tác giả Cosserat] đã mất, nhưng ông rất sẵn sàng để thương thuyết một hiệp ước thứ 3, hiệp ước này chắc sẽ gặp nhiều may mắn hơn là hai cái trước." (23) Câu chuyện này được bàn sâu rộng trong các Chương 1 và 4 nhân khi bàn về biến cố lên ngôi của vua Hàm Nghi. Ở đây chỉ xin tạm trả lời rằng những tài liệu gốc về biến cố này, đặc biệt là nhật ký, và báo cáo, phúc trình của Ô. Rheinart không hề trực tiếp hay gián tiếp xác nhận việc ông Phụ chánh có nói câu này với Ô. Rheinart hoặc với một viên chức nào khác. Ngoài ra, hiệp ước nói trong câu trả lời gán cho Ô. Tường, là Hiệp ước Bảo hộ 6-6-1884 mà chính Ô. Nguyễn Văn Tường cùng các ông Phạm Thận Duật và Tôn Thất Phan vừa ký với Ô. Patenôtre mới có hai tháng, có sự tham gia tích cực của Ô. Rheinart. Làm sao mà Ô. Tường có thể nói là vua Kiến Phúc đã ký nó được. Ngoài ra, trước đó có bao giờ Ô. Tường hay một vị quan nào khác phủ nhận Hiệp ước 25-8-1883 vì vua Hiệp Hòa đã mất đâu?

     b. Sự xuyên tạc của Lucien Huard đã bị Cosserat vạch trần

     Mặt khác, tác giả Huard viết nhiều chuyện trong sách của mình, mà không cho biết nguồn gốc, xuất xứ từ đâu, mà cũng không được một nguồn tin nào xác nhận, trừ những tin lặp lại về sau, như của Linh mục Delvaux. Chính tác giả Cosserat đã thử kiểm điểm một tin của Ô. Huard trong sách này, nói trong bốn trường hợp, rằng Đại tá Guerrier đã phải uốn mình theo nghi lễ Triều đình đi cò cò [cloche-pied] một cách kỳ cục và khôi hài khi vào điện Thái Hòa để dự lễ tái tấn phong vua Hàm Nghi. Sau đây là lý do tác giả Cosserat cho biết tại sao mình làm việc phối kiểm này:

Tất cả những ai tìm cách làm sống lại quá khứ và say mê trong việc soi sáng một chủ đề lịch sử, tìm rõ căn nguyên của một giai thoại ít được biết đến, đều nhận thấy rằng quả là hết sức khó khăn để phân tách ra được sự thật từ những tư liệu mà mình tìm ra được.

Nói riêng về Đông Dương, và những biến cố xảy ra tương đối gần đây chỉ khoảng gần bốn mươi năm, người ta lấy làm lạ, khi phải sưu tầm về lịch sử một sự kiện của thời đại này, mà nhận thấy phần lớn là sự gần như là vô phương cách để tìm ra được ánh sáng hoàn toàn, mặc dầu số tài liệu, quả thực to tát, hiện có về thời đại đó, vì số tài liệu đó nói chung quá thiếu tính cách chính xác và trong sạch [tellement cette documentation manque en général de précision et de netteté].

Do đó, phải luôn luôn truy đến tài liệu gốc chính thức, mỗi khi có thể làm được, hoặc để hỗ trợ một sự kiện do một nhân chứng mục kích kế lại, hay cần hơn nữa, để phối kiểm và tìm ra tính cách xác thực của một sự kiện do một tác giả tường thuật mà không cho biết nguồn gốc tham khảo.

Nhân khi đọc vừa qua tác phẩm của Lucien Huard: Cuộc chiến tranh minh họa [La guerre illustrée], tôi gặp bốn đoạn liên quan đến sự đón rước Đại tá Guerrier của Triều đình An Nam ở Huế năm 1884, một việc đã làm cho tôi kinh ngạc vì cái cử chỉ lố bịch, để khỏi nói nhiều hơn nữa, mà tác giả đã gán cho vị đại tá nhân cuộc tiếp đón của nhà vua, một sự kiện không dựa vào bất kỳ một bằng chứng tham khảo nào, mà tôi cũng không tìm thấy được một vết tích nào từ các tác giả mà tôi đã có thể khảo duyệt. (24)

     Sau khi phân tích, phối kiểm và đối chiếu các đoạn văn của Ô. Huard và các tài liệu trong hồ sơ tòa Khâm sứ Trung Kỳ, nhứt là điện văn, thư tín, diễn văn, phúc trình của Đại tá Guerrier và của các nhân vật liên hệ như Rheinart, Tricou, de Champeaux cũng như một số tư liệu căn bản khác liên quan đến vấn đề này, Ô. Cosserat kết luận:

Bây giờ còn lại cái gì của cái câu chuyện truyền kỳ khốn nạn [misérable légende] do Lucien Huard kể lại? Không có gì hết, nếu không phải là một sự vu cáo vô bằng, tạo ra từ một con số không, đối với một sĩ quan của quân đội ta, mà chúng tôi vừa chứng minh đầy đủ sự dối trá.

Song le, người ta đã có thể nhận chân, khi đọc những bốn đoạn trong đó Lucien Huard đề cập đến cái gọi là cử chỉ của Đại tá Guerrier, y đã tỏ ra quả quyết biết chừng nào, hay chính xác biết bao nữa. Y đã viết với một sự tin tưởng mà thiên hạ có thể cho là dựa vào những bằng chứng tham khảo bất khả phản bác.(15)

     Nhận xét thêm rằng Ô. Huard đã không có chút dè dặt nào, cũng không lúc nào cảm thấy tính cách nghiêm trọng của những sự kiện do y kể lại, hay cũng không do dự tí nào trước khi lặp lại một câu chuyện mà không kiểm chứng trước tính cách xác thực của nó, Ô. Cosserat kết thúc:

Người ta có thể tha thứ một tác giả đã kể một chuyện giai thoại một cách ngay tình, một sự kiện sai lầm, dựa vào lòng tin ở một bằng chứng mà mình cho là đúng đắn, nhưng về trường hợp đặc biệt này của chúng ta, tôi tưởng rằng người ta không thể tha thứ cho Lucien Huard được, vì cái thái độ ung dung của y khi mô tả giai thoại lố bịch mà y gán cho Đại tá Guerrier, vì sự cố tình rành rành của y để trở lại với đề tài đó mỗi khi gặp dịp, trong lúc mà tính cách bất khả tín hiển nhiên của câu chuyện đập ngay vào mắt của những kẻ ít kiến thức nhứt.

Cái việc đã tin rằng một sĩ quan của quân đội chúng ta có thể hạ mình đóng một vai trò đến mực lố bịch và kỳ cục như vậy, không thể chấp nhận được, và người ta tự hỏi đâu là động cơ thúc đẩy y hành động như thế.

Dù sao, tôi rất lấy làm sung sướng, và tất cả những người yêu mến quân đội của chúng ta, nghĩa là tất cả những người Pháp tốt, sẽ cũng hoan hỉ như tôi, vì hoàn cảnh đã cho phép tôi tái lập lại sự thực bằng cách chứng minh một cách không thể chối cãi sự sai quấy của các sự kiện do Lucien Huard gán cho Đại tá Guerrier.(26)

...(còn tiếp)...

 

   Mời xem ngay tại: https://nguyenvantuong.khaitam.com

----
[Chú thích]
(1) Thế phả, 383-384.
(2) ĐNTL, XXXVI, 108.
(3) ĐNTL, XXXVI, 150-151.
(4) Hạnh thục ca, 30-31.
(5) ĐNTL, XXXVI, 20-22.
(6) AN SOME, Indochine A.F., 17/A 30 [60], dẫn do NTA, Monarchie, 83, ct. 71.

(7) Rheinart, "Journal", BAVH [1943], 173, NQT dịch.

(8) Thư số 39, 2-2-1889, Rheinart gởi Toàn quyền Đông Dương Richaud. AMAE, Mém. & Doc., Asie, V. 74, fo. 152, NQT dịch.
(9) Patenôtre, tome 1, 103.
(10) AMAE, Mém. & Doc., Asie, V. 43, fo. 280, NQT dịch.
(11) Note de M. de Champeaux, 24-9-1884. CAOM, C.18, A 30 [72].

(12) Rheinart, "Journal", BAVH [1943], 173, ct. 1, NQT dịch.
(13) BAVH [1943], 128. ct.1.
(14) BAVH [1943], 194, ct.1, NQT dịch.
(15) Delvaux, "Quelques précisions", BAVH [1941], 251; NQT dịch.
(16) Delvaux, "Mort de Nguyen Van Tuong", BAVH [1923], 430, NQT dịch.
(17) A. Bouisnais et A. Paulus, L'Indo-Chine française contemporaine, 2v. (Paris: Librairie maritime et coloniale, 1885). (Dẫn tắt là: Bouinais).
(18) Maybon, Histoire d'Annam, xii, ct. 1.
(19) Bouinas, II, 274.
(20) Delvaux, "Légation Hué", BAVH [1916], 552-53, NQT dịch.

(21) Không biết tác giả [titre perdu], Sceaux, imp. Charaire et fils, trang 367. (Dẫ tắt là: Guerre du Tonkin).
(22) L. Boulanger, Editeur, 83 rue de Rennes, Paris. s. g. (Dẫn tắt là: Huard, Guerre illustrée).
(23) Cosserat, H., "Comment on écrit l'histoire: réception du Colonel Guerrier à la Cour d'Annam le 17 Aout 1884", BAVH [1924], 279. (Dẫn tắt là: Cosserat, "Comment on écrit l'histoire", BAVH [1924]).
(24) Cosserat, "Comment on écrit l'histoire", BAVH [1924], 273-274, NQT dịch.
(25) Cosserat, "Comment on écrit l'histoire", BAVH [1924], 294 NQT dịch.
(26) Cosserat, "Comment on écrit l'histoire", BAVH [1924], 294-295, NQT dịch.