NGUYỄN VĂN TƯỜNG TƯ THÔNG VỚI HỌC PHI, GIẾT KIẾN PHÚC? - KỲ 2

10/08/2020

 

c. Sự thiếu trung thực của các nguồn tin Pháp thuộc địa nói chung

     Rất tiếc là tác giả Cosserat đã không phối kiểm luôn vụ Ô. Huard gán cho Phụ chánh Nguyễn Văn Tường trả lời Ô. Rheinart là hiệp ước không còn vì ông vua ký nó đã chết, mà chính tác giả đã trích dẫn, như đã nói trên. Đây là một giai thoại cũng do cùng tác giả đó tạo ra, mang những đặc tính như truyện truyền kỳ gán cho một sĩ quan cao cấp Pháp, mà xác tính còn đáng nghi ngờ hơn nhiều nữa, và hậu quả còn quan trọng hơn nhiều, vì có thể căn cứ vào câu nói đó mà các tác giả Pháp khác, đặc biệt là LM Delvaux đã suy diễn ra là Ô. Nguyễn Văn Tường giết vua Kiến Phúc. Cũng đáng tiếc là Ô. Cosserat đã không viết nhiều bài như loại này hơn, nhứt là những chuyện hoang đường gán cho những nhân vật lịch sử Việt Nam, một khi mà tác giả đã xác nhận, như đã dẫn trên, rằng số sử liệu về giai đoạn lịch sử thuộc địa đó, tuy rất đồ sộ về số lượng, nhưng nói chung, hết sức thiếu tính cách chính xác và trong sạch. Và cũng đáng tiếc là tác giả không thử phối kiểm vô số các câu chuyện do chính đồng nghiệp của mình trong ban biên tập BAVH, đưa ra, như LM Delvaux, chẳng hạn để xem chúng hơn hay kém chuyện giai thoại nói trên của Lucien Huard. Thật cũng đáng tiếc rằng các đồng nghiệp này chả có lãnh hội gì bao nhiêu cái ý nghĩa của bài viết khá trung thực này của Ô. Cosserat, vì những bài viết về sử thuộc địa trong tạp chí của hội này quả chẳng có hơn những gì được nói trong sách của Ô. Huard bao nhiêu, như được thấy trong thiên khảo luận này.

     Tóm lại, chỉ theo một mình tác giả Delvaux, Ô. Nguyễn Văn Tường đã giết vua Kiến Phúc bằng ba cách khác nhau: trong bài viết năm 1916, tác giả cho rằng Ô. Nguyễn Văn Tường đã cùng Ô. Tôn Thất Thuyết “thủ tiêu" [faire disparaitre] vua để vô hiệu hóa Hiệp ước Bảo hộ 1884; trong bài viết năm 1923, tác giả lại nói rằng Ô. Tường giết vua bằng cách bóp cổ, rồi trong bài viết năm 1943 thì kể rằng Ô. Tường âm mưu với bà Học Phi để đầu độc vua. Như vậy, các tin này đương nhiên triệt tiêu và vô hiệu hóa lẫn nhau. Một người mà ra tòa tố cáo một người khác sát nhân trong ba trường hợp trái ngược nhau như thế, thì không những người bị cáo không có tội mà nguyên cáo còn phải phạm tội “cáo gian”, hay “phản tọa" theo luật xưa.(1) Ngoài ra, các bài viết của vị linh mục này trong tập san BAVH còn chứa đựng không biết bao nhiêu là loại tin tức xuyên tạc tương tự, được bàn trong các dịp khác. Do đó, tưởng không có gì đáng ngạc nhiên khi Ô. Rheinart, một sĩ quan hải quân chuyển sang ngạch thanh tra hành chánh rồi làm đại diện cho chính quyền Pháp trong rất nhiều năm tại sứ quán Huế, đã ghi trong nhật ký của ông năm 1874 như sau, để đánh giá nguồn tin của các nhà chức sắc Công giáo Pháp, rằng "Những tin tức do các vị Thừa sai cung cấp không bao giờ chính xác và thường không đúng sự thật. [Les renseignements donnés par les missionnaires ne sont jamais précis et sont souvent inexacts.]”(2)
 
     Còn các tin của vị Chánh sở Mật thám Trung Kỳ, L. Sogny đưa ra, thì có thể được hiểu là thuộc phạm vi nghề nghiệp của ông ta. Nói tiếng Huế như người bản xứ và rất thông thạo chữ nho, Ô. Sogny đã nắm giữ vai trò quan trọng trong Hội Đô thành Hiếu cổ và cung cấp tài liệu từ sở Mật thám và tòa Khâm sứ Pháp cho các hội viên khác viết bài. Riêng ông cũng đã viết nhiều khảo luận, nhứt là về các nhân vật thân Pháp.(3)

4. Cái chết của vua Kiến Phúc theo lời các tác giả Pháp, Việt khác

     Thuyết “vô hiệu hóa Hiệp ước Bảo hộ”, mà LM Delvaux đã dựa theo, được phần đông các tác giả Pháp đề ra, căn cứ vào lý luận, mà họ gán cho các ông Phụ chánh, Tường và Thuyết, rằng nếu vua Hiệp Hòa đã bị thủ tiêu là vì đã công nhận sự bảo hộ của Pháp qua Hiệp ước Harmand 25-8-1883, thì nay vua Kiến Phúc phải chịu chung số phận vì Hiệp ước Bảo hộ 6-6-1884. 

     a. Giết vua Kiến Phúc để thủ tiêu Hiệp ước Giáp Thân?

     Thật vậy, theo tác giả Huard thì về “cái bệnh tình ấy của vua, không có gì lầm lộn khó hiểu cả, đó chính là cái bệnh đã cướp đi Hiệp Hòa và có thể cả Tự Đức nữa, đó là nền đô hộ Pháp.”(4)  Cựu Thiếu tá Hải quân và Thống sứ Bắc Kỳ Vial cũng nói theo một đường hướng tương tự rằng: “Có lẽ đúng là các ông Phụ chánh không chấp nhận trách nhiệm về các sự nhượng bộ dành cho nước Pháp, và đổ lên đầu một Hoàng thân trẻ vô hại và suy nhược... Có tin đồn rằng Hội đồng Phụ chánh đã thủ tiêu ông ta.”(5) Các nguồn tin kể trên đã được LM Nguyễn Văn Phong tổng hợp một cách tài tình gọn ghẽ như sau: 


...Sự háo hức của Hiệp Hòa, vì cảm thấy bị hăm dọa trầm trọng, đã thỉnh cầu sự giúp đỡ của Pháp với những lời lẽ dụng ý mơ hồ [theo Picard Destelan và J. Masson, ct. 6], đã phải thúc giục cái chết của ông ta... theo lệnh hai Phụ chánh. Cái chết, dù cho là tự nhiên [theo Rheinart, ct. 7] hay cưỡng bách [theo Masson, ct. 8], của Kiến Phước, đã bị giam giữ sẵn trong cung theo lệnh của Tường, không những được dùng làm duyên cớ để thủ tiêu Hiệp ước 1884, chiếu theo “một giả tưởng ngoại giao của Á Đông cho rằng một hiệp ước không có giá trị gì hết khi mà người ký nó chết gần như là liền sau đó” [theo Pouvourville, ct. 9], mà còn ăn khớp hoàn toàn với ý muốn của Tường, người đã bị tai tiếng là đã có liên lạc thân mật với một bà vợ hầu của vua [theo Rheinart, ct. 7].(6)


     Khi đưa ra cái tố cáo quá ngây ngô này, các tác giả quên rằng chính Ô. Nguyễn Văn Tường đã ký Hiệp ước 1884, chớ đâu phải vua Kiến Phúc ký mà giết ngài. Ngoài ra, ở đây, có một điểm đáng lưu ý, về phương diện phương pháp ghi chú tài liệu, là Ô. Rheinart, trong nhật ký của mình, không hề đả động gì đến việc Ô. Nguyễn Văn Tường đầu độc vua Kiến Phúc, hay việc Ô. Tường tư thông với Bà Học Phi, mà chính Ô. Sogny, Chánh sở Mật thám Trung Kỳ và là người bình giải nhật ký ấy [do con của Ô, Rheinart cung cấp cho tập san BAVH, đã thêm vào bằng chú thích. Thật vậy, ở trang 173 của nhật ký, chỗ Ô. Rheinart viết về cái chết của vua Kiến Phúc mà ông cho là một cái chết tự nhiên, ghi rằng: “Vị vua trẻ, theo tôi tưởng, đã bị bệnh óc não hay tủy xương sống [le jeune roi a eu, je crois, une maladie du cerveau ou de la moelle épinière]". Trong chú thích 1 liên quan đến câu đó, Ô. Sogny, với tư cách là nhà bình giải, ghi, như đã kể trên, rằng các giới người Việt thạo tin nhất đã cho rằng vua bị đầu độc, để đính chính sự xác nhận của Ô. Rheinart mà Ô. Sogny cho là sai.(7) Cũng trong nhật ký đó, trang 128, ở chỗ Ô. Rheinart nói về các con nuôi của vua Tự Đức là Triếu [Đồng Khánh] và Mến [Kiến Phúc] và chị của họ là dâu, mà ông nói là vợ, của Ô. Tường, và việc cần phải ngăn chặn việc Mến được vua Tự Đức chỉ định kế vị, Ô. Sogny cũng chú thích rằng Ô. Nguyễn Văn Tường có vận động xin và được vua chấp thuận cho dâu mình làm con nuôi chính thức của vua, để con mình trở thành phò mã, nhưng sự thừa nhận này đã không thấy được công bố sau khi vua mất, 

Và ngoài ra, Tường, người đã nổi tiếng là có những liên hệ thân mật với người vợ lẽ của vua, bà này đã dành tình thương mẫu tử cho Kiến Phước tương lai, đã giam giữ vua này lúc ông tại vị, hầu đưa con của mình lên ngôi. Âm mưu này không thành vì Hàm Nghi được chỉ định để thay thế anh của mình. Tin chính thức nói rằng bằng cách thủ tiêu Kiến Phước, các Phụ chánh muốn hủy bỏ Hiệp ước 1884 đã được ông vua con ký.(8)


     b. Sự lầm lẫn của sử gia trong việc chỉ trích Nguyễn Văn Tường

     Trong sách của LM Nguyễn Văn Phong có ghi ở chú thích 7, trang 247: “Rheinart, Journal, notes, op. cit., pp. 128, n. 1, 173", nhưng, không rõ vô tình hay cố ý, quên ghi rõ là người bình giải, Sogny, Chánh sở Mật thám Trung Kỳ thời Khải Định, Bảo Đại chớ không phải Khâm sứ Rheinart thời Tự Đức, Kiến Phước, nói. Do đó, sử gia Vũ Ngự Chiêu, mặc dầu là người đã viết sử dựa rất nhiều vào tài liệu gốc và đầu tay, và đứng về phương diện quyền lợi quốc gia Việt nam, và bênh vực hai ông Phụ chánh nhiều hơn các sử gia khác, đã dựa vào sách LM Phong, trang 247 mà vô tình viết lầm rằng: “Khâm sứ Rheinart, qua hệ thống tình báo riêng, cho rằng Kiến Phước đã bị Phụ chánh Tường hạ độc, không những vì Nguyễn Văn Tường tưởng rằng hiệp ước 1884 sẽ trở thành vô giá trị nếu người ký kết từ trần, mà còn do lòng dục vọng muốn duy trì những liên hệ mật thiết với một vương phi. [75]" (9) Trong phần chú thích số 75, trang 361, sử gia họ Vũ đã ghi đúng phương pháp và xuất xứ của tin nói trên là phần nhật ký của Ô. Rheinart trong BAVH, mà LM Phong đã dẫn trong sách của mình, nhưng ghi lộn số trang là 166-167 thay vì “các trang 128, ct. 1, 173 [pp. 128, n. 1, 173]” như vị linh mục đã ghi. Đây chỉ là một lầm lẫn về vật chất, trang 166-167 là của sách tác giả Picard Destelan, ghi trong một chú thích nằm trên chú thích Rheinart trong sách của Cha Phong. Đáng lý ra, LM Phong nên ghi rõ hơn là trang 128 và chú thích 1 cùng trang 173 và chú thích 1 [pp. 128, n 1, 173, n. 1], và nhắc nhở độc giả rằng những ý kiến và sự kiện mà mình nói đây là do Ô. Sogny nói trong các phần chú thích đó, để người đọc biết mà khỏi lầm lẫn. Chắc hẳn là sử gia Chiêu đã tin tưởng nhiều ở lòng trung thực của LM Phong nên không tham khảo thẳng tài liệu gốc hay đầu tay, như nhật ký Rheinart để nhận định rằng những điều mà mình xác nhận ở trên là của Ô. Sogny nói và đáng nghi ngờ hơn là của Ô. Rheinart. Mặt khác, sử gia họ Vũ sẽ hiểu rằng vương phi mà mình nói là Ô. Tường “muốn duy trì những liên hệ mật thiết với", chính là mẹ nuôi của vua Kiến Phúc đó, và trong phần chú thích số 75, trang 361 nói trên sẽ không còn tự hỏi nữa là: “Có nguồn tin cho rằng Nguyễn Văn Tường giao du thân mật với mẹ nuôi Kiến Phước. Chẳng hiểu chi tiết này xuất xứ từ đâu.” (10)

C. NGUYỄN HỮU ĐỘ VÀ VIỆC VUA KIẾN PHÚC CHẾT 

     Để trả lời câu hỏi này tưởng nên xem thêm câu chuyện về phía sử Việt Nam. Khoảng một năm sau khi vua Kiến Phúc mất, trong một bức thư gởi Tướng de Courcy, Ô. Nguyễn Hữu Độ, một vị quan theo Pháp ở Bắc Kỳ và chống lại Triều đình Huế thời các Phụ chánh Tường, Thuyết cầm quyền, có nói ám chỉ rằng vua Kiến Phúc nghe chuyện gian díu giữa Ô. Nguyễn Văn Tường và bà Học Phi nên uất ức mà chết. Ô. Độ không nói vua chết vì bị Phụ chánh Tường đầu độc, hay duyên cớ mờ ám nào khác. Ông đã nói nguyên văn như sau trong thư:

Chúng tôi thân hào sĩ xứ Bắc Hà kính bẩm Đại nguyên soái thống xuất Bắc Kỳ quân vụ toàn quyền đại thần các hạ:
[...]
Vua Kiến Phúc lên ngôi, tính người trong sạch, thiên tư khôn sáng, bọn nghịch thần ấy 
[hai ông Tường và Thuyết] e rằng không lợi cho mình, cùng nhau thông mưu với Nội đình, ngẫm cho cuộc phế lập. Thêm nữa, những tiếng [buông khe] không tốt, truyền bá ra ngoài, cho đến vua Kiến Phúc cũng tức giận mà chết. Than ôi! Thảm thay! (11)

     1. Nguyễn Hữu Độ và Nguyễn Văn Tường 

     Về tương quan giữa Ô. Tường và Ô. Độ, tác giả cuốn vua Hàm Nghi cho biết là:

Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết xét biết rằng Nguyễn Hữu Độ đã ngầm giao thiệp với người Pháp để gây thế lực riêng cho mình nên muốn triệu về để giữ mối họa về sau. Nhưng Độ là người rất giảo quyệt néo riết lấy người Pháp. Và không những không theo mệnh lệnh của triều đình, Độ lại còn dụng tâm mượn thế lực của Pháp để trừ cho kỳ được Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. (12)

     Những lời bình luận này rất phù hợp với những gì chính sử nhà Nguyễn là Đại Nam thực lục đã nói. (13) Ngoài ra, còn nhiều lý do khác khiến Ô. Độ âm mưu ám hại Ô. Tường. Một trong những câu chuyện thường được kể lại, là vụ dân Hà Nội dựng đền sinh từ Nguyễn Hữu Độ, lúc ông làm quyền hay hộ lý Tổng đốc tỉnh đó. Chuyện vỡ lở lên đến tai Triều đình, Ô. Độ đã dâng sớ cáo lỗi, viện cớ là dân chúng thương mến ông và tự động làm, và ông không ngăn họ được. Quan Khoa đạo Bùi Hữu Tạo điều tra và hặc tội, vì lẽ rằng Ô. Độ đã nghe lời nịnh hót của Bang biện và Đề đốc tỉnh đó, gởi thân hào phủ huyện chia nhau góp mỗi người 200 lạng bạc để xây sinh từ lên đến hàng vạn. Việc được tái điều tra thì lại nói là sinh từ chỉ do dân một thôn làm, và một môn thuộc của Ô. Độ là Võ Văn Hoạt nhận lãnh một mình tự ý làm tất cả. Hai Phụ chánh Tường và Thuyết thấy chuyện vô lý, vì một tiểu dân như tên Hoạt làm sao mà có thể đủ sức một mình đảm đương một việc to lớn chi phí hơn vạn bạc như vậy được, nên cho điều tra kỹ càng lại. Trong lúc cuộc tái điều tra đang tiếp diễn thì đến hè năm sau nội vụ được tạm xếp vì Kinh thành thất thủ. (14) Một chuyện khá ngộ nghĩnh liên quan đến vụ này, là sau khi theo lệnh người Pháp đưa vua Đồng Khánh lên ngôi, việc ưu tiên mà Ô. Nguyễn Hữu Độ làm là khiến vua ra dụ ân xá cho những người ở trong trường hợp như của mình. Sử chép:

Vũ hiển điện đại học sĩ sung Cơ mật viện đại thần là Nguyễn Hữu Độ tâu nói: Quốc triều lập phép, hình phạt có đủ điều lệ, kỹ càng đến nhường nào... Từ sau khi tiên đế chầu trời, quyền thần giữ chính nước, khinh thường bỏ cả điển hình... Trừ các tội danh phạm phải từ ngày 16 tháng 6 năm Tự Đức thứ 36 trở về trước đều theo án trước xử lý ra, còn tự ngày 17 trở về sau, không cứ là can khoản gì, phạm tội gì... đều làm danh sách tâu lên đợi chỉ cho khoan xá và truy trả lại chức hàm, khiến cho khỏi bị can lạm. Vua y cho.(15)

     2. Nguyễn Hữu Độ và vua Đồng Khánh

     Dưới Triều Đồng Khánh, Ô. Độ hầu như nắm toàn quyền, dưới sự điều khiển trực tiếp của người Pháp. Trong giai đoạn đầu, một mình ông kiêm quản luôn 6 bộ, một việc trái hẳn với điển lệ nhà Nguyễn. Khi chính Ô. Độ tự thấy ái ngại và xin chỉ trông coi bộ Binh mà thôi, vua Đồng Khánh không cho, vì sợ không đủ khả năng tự đảm đương công việc các bộ kia. Vua cũng không thấy thẹn thùng mà xác nhận rằng "...khanh theo nước Pháp đón trẫm vào nối ngôi vua...", và yêu cầu Ô. Độ tiếp tục giúp vua như vậy trong một thời gian vài năm nữa. Ô. Độ, vì muốn chuẩn bị đi làm thêm chức Bắc Kỳ kinh kược sứ, tức trong thực tế là vua xứ Bắc Kỳ, trực tiếp dưới quyền người Pháp, nên cố nài nỉ, dựa theo tiền lệ là các đại thần như Trương Đăng Quế, Trần Tiến Thành trước kia cũng chỉ kiêm quản có một bộ Binh là tối đa, vua mới chịu y cho. (16) Đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), mặc dầu đã làm chức Kinh lược ở Bắc, ông vẫn kiêm nhiệm chức Cơ mật viện đại thần ở Kinh, nên Triều đình phải xây nhà riêng cho ông ở đây, và nhà này trở thành tài sản riêng của ông, dựa theo tiền lệ xa xưa ở bên Tàu và ở đời Minh Mạng. Chính sử chép rằng:

Vua nghĩ các công thần khi xưa, xét trong sử truyện, cũng có ban cấp nhà riêng; Nguyễn Hữu Độ đã phong tước công, thì nhà riêng cũng nên ban cấp; duy hiện nay chưa được dư dụ, thợ thuyền cũng thiếu, nếu nhà nước xây dựng cho, hơi có chưa tiện. Bèn chuấn cấp cho 1.000 lạng bạc, giao cho nhà viên ấy thuê làm. 
[Quách Tử Nghi đời Đường có công lao lớn, giữ yên nhà vua, đức tôn, cho ruộng tốt, đồ dùng đẹp, vườn đẹp, nhà chứa sách, chép không xiết được; Ngụy Liễu Ông đời Tống tặng thái sư, cho nhà cửa. Đời Minh, Vu Khiêm, tài lược nhanh nhẹn, lo nước quên mình, cho nhà ở cửa Tây Ba; Thang Hóa phong Tín quốc công, Thái tổ cho tiền làm nhà. Bản triều, khoảng năm Minh Mệnh, nguyên trung hưng công thần là Trịnh Hoài Đức, không có nhà riêng, vì tuổi già xin trí sự, vua không cho, cho 2.000 quan tiền cùng gỗ, gạch, ngói, để làm nhà ở ngay kinh]. (17)

     3. Nguyễn Hữu Độ và người Pháp

      Sở dĩ Ô. Độ được giao quyền lớn chưa từng có như vậy là vì từ lâu trước đó, ông đã lập được nhiều công trạng với người Pháp, và được họ hoàn toàn tin dùng. Một trong những thành tích phục vụ Pháp khá nổi tiếng hồi đó của Ô. Độ là việc giúp Đức cha Puginier xây nhà thờ trên chùa Báo Thiên ở Hà Nội. Công sứ Pháp ở Hà Nội thời bấy giờ là Bonnal đã khen ngợi tinh thần hợp tác của Ô. Nguyễn Hữu Độ và kể lại một bằng chứng, như việc chiếm hữu đất chùa một cách “hợp pháp", như sau: 

     San bằng cái chùa và tịch thu miếng đất, thật không có gì dễ bằng trong thời gian chiếm đóng..., tuy nhiên, công bình mà nói, tôi cảm thấy ít nhiều ái ngại trong việc phạm một sự lạm quyền kiểu đó, nên thấy tốt hơn là nhờ ông Tổng đốc, Nguyễn Hữu Độ. Ông rất tâm đầu ý hiệp với vị Giám mục [Puginier] và muốn làm vừa lòng ngài cũng như tôi vậy. Thoạt tiên, ông cho điều nghiên xem có ai là hậu duệ của người sáng lập ra chùa, đã chết hai thế kỷ trước, và, lẽ dĩ nhiên, không tìm ra ai. Thứ đến, ông chỉ thị cho các công dân lãnh đạo trong phường, được chọn lựa có vẻ như là do sự may rủi giữa các người Công giáo, đến thẩm lượng mức độ kiên cố của ngôi chùa, họ không ngần ngại xác quyết rằng ngôi chùa đã mục nát có thể sập gây nguy hiểm cho những người qua lại. Bây giờ, mọi việc đã đâu vào đấy. San bằng ngôi chùa và tịch thu miếng đất vô chủ vì lợi ích quốc gia là những biện pháp chính đáng theo tập tục An Nam, và không thể bị ai phản đối được... [Ông Tổng đốc] cũng lãnh luôn trách nhiệm chuyển nhượng vô thường khu đất bị sung công cho giáo phận, và lấy làm thỏa thích được chính thức dâng trình mảnh bằng khoán khu đất cho vị Giám mục... (18)

     Ngoài việc làm vừa lòng các nhà chức sắc Công giáo Pháp, Ô. Độ bao giờ cũng hết lòng phục vụ nhà cầm quyền Pháp, và rất thường sẵn sàng thỏa mãn những nhu cầu của họ có khi còn nhiều hơn là họ đòi hỏi. Sau đây là một trong nhiều trường hợp đã được chính sử tường thuật:

Khi trước viên toàn quyền ở Bắc Kỳ là Bi U [Bihourd, Tổng Trú sứ kế vị Paul Bert], bàn với nha kinh lược nói: “Viên thông sự là Lê Vân Quyền, làm việc khó nhọc tài cán, xin cho thăng 2 trật" [nguyên trước thưởng hàm tri phủ]. Nguyễn Hữu Độ xin cho thăng thị độc học sĩ [là thăng 3 trật]. Bộ Lại nói: “Thị độc học sĩ là chức ở bí các thanh cao, tưởng chưa được hợp, xin cho thăng quang lộc tự thiếu khanh". Rồi sau viên khâm sứ có ý không được hài lòng. Lại chuẩn cho như Hữu Độ định trước.(19)

     Lịch sử Pháp thuộc địa, nói chung, không những bỏ lơ không nói đến những hành vi tham nhũng hay bê bối của Ô. Độ, mà còn giải thích những hành vi thân Pháp của ông như là do lòng ái quốc của ông thúc đẩy. Trong một bài biên khảo về Ô. Độ, Ô. Sogny, Chánh sở Mật thám Trung Kỳ, cho rằng Ô. Độ là dòng dõi Nguyễn Trãi, và là người duy nhất trong lịch sử nước An nam, sau khi Kinh đô Huế rơi vào tay Pháp, đã được thăng từ chức thị lang, hàng chánh tam phẩm, lên chánh nhứt phẩm, và đứng đầu triều, là một ông quan rất hiếm có đã tận tâm với nước Pháp theo lời của Ô. Jean Dupuis; là bạn của nước Pháp trong mọi trường hợp, và đã có nhiều thiện cảm với Ô. Dupuis từ khi làm phủ thần Quảng Yên, theo lời của Ô. Ernest Millot, bạn thân của Ô. Dupuis. Ô. Sogny kể thêm rằng sau khi hai ông Tường và Thuyết truất phế vua Hiệp Hòa, thì Ô. Độ giận đến khóc lên, và tố cáo các tội ác của các Phụ chánh với người Pháp; rồi khi nghe vua Hàm Nghi rời Kinh thành với Ô. Thuyết thì Ô. Độ khóc nức nở, và đề nghị với nhà cầm quyền Pháp cho mình về Kinh giúp lập lại trật tự. (20) Và trước khi chết vì bệnh, Ô. Nguyễn Hữu Độ đã gởi thư cho Toàn quyền và Khâm sứ Pháp có đoạn như sau:

Trong 3 năm qua nước chúng tôi bị suy đồi. Uy quyền quốc gia lọt vào tay bọn phản quốc đã vì tham vọng riêng, mang lại tai họa cho đất nước chúng tôi. Ngôi báu đã bị khuynh đảo. May mắn thay, Chính phủ Pháp vĩ đại đã không lìa bỏ chúng tôi. Họ đã hạ cố ban cho tôi lòng tin của họ, và tôi đã được cái ân trạch giao tiếp với những viên chức cao cấp của chính phủ ấy để giải quyết các vấn đề quốc gia, và tái tục, bằng những hiệp ước, mối giây liên lạc thân hữu giữa hai chính phủ.
Nếu nước chúng tôi được như ngày nay, đó là nhờ ở lòng nhân đức của chính phủ Pháp. Tôi xin mang cái kỷ niệm êm đềm đó xuống nấm mồ và truyền nó vào thân xác của tôi. Than ôi! Tôi không thể nào bày tỏ tất cả lòng tri ân nồng nhiệt và chân thành của tôi. (21)

...(còn tiếp)...

👉 Mời xem ngay tại: https://nguyenvantuong.khaitam.com

[Chú thích]
(1) HÐSL, XII, 240-248.
(2) Rheinart, "Journal", BAVH [1943], 33, NQT dịch.
(3) Xem Association des amis du vieux Hué, Collection du Vieux Hué; Le Bulletin des Amis du vieux Hué, 19141923 Hanoi: Imprimerie d'Extrême-Orient, 1925); và tạp chí BAVH, passim.
(4) Huard, Guerre illustrée, 367, dẫn do Nguyễn Văn Phong, La société vietnamienne de 1882 à 1902 d'après les écrits des auteurs français (Paris: Presses universitaires de France, 1971) (Dẫn tắt là: NVP), 245, ct. 4; NQT dịch.
(5) Paulin Vial, Nos premières années au Tonkin (Paris: Challamel, 18891889169 dẫn do NVP, 245, ct. 5, NQT dịch.
(6) NVP, 247; NQT dịch, và tóm lược các chú thích của tác giả NVP.
(7) Rheinart, "Journal", BAVH [1943], 173, ct. 1 của Sony.
(8) Rheinart, "Journal", BACH (1943], 128, ct. 1 của nhà bình giải Sony, NQT dịch.
(9) VNC, Các vua, I, 353. 
(10) VNC, Các vua, I, 361, ct. 75.

(11) PTC, Hàm Nghi, 89. Rất tiếc là họ Phan, cũng như phần đông các sử gia Việt, không cho biết xuất xứ bức thư, cũng như tài liệu dùng để tham khảo, nhưng thiết tưởng bức thư phải có thực ở đâu đó, có thể là Văn khố Tòa Thống sứ Bắc Kỳ, nay nằm ở Trung tâm Lưu trữ Trung ương Quốc gia I ở Hà Nội.
(12) PTC, Hàm Nghi, 88.
(13) ĐNTL, XXXVI, 234, 236, 237, et passim.
(14) ĐNTL, XXXVI, 213-214.
(15) ĐNTL, XXXVII, 26.
(16) ĐNTL, XXXVII, 194-195.
(17) ĐNTL, XXXVIII, 84.
(18) André Masson, The Transformation of Hanoi, 1873-1888 (Madison, WI: Center for Southeast Asian Studies, University of Wisconsin-Madison, 1983) (Dẫn tắt là: Masson. A., Hanoi), 51, NQT dịch.
(19) ĐNTL, XXXVIII, 28.
(20) Sogny, L., "Les familles illustres de l'Annam: S.E. Nguyễn-Hữu-Độ", BAVH, [số 2, 1924], 187, 189, 190, 190-191, 187, 169-204, (Dẫn tắt là: Sogny, "Nguyễn Hữu Độ”, BAVH [1924]).
(21) Sogny, "Nguyễn Hữu Độ”, BAVH [1924], 202, NQT dịch.