NGUYỄN VĂN TƯỜNG TƯ THÔNG VỚI HỌC PHI, GIẾT KIẾN PHÚC? - KỲ 3

14/08/2020

 

     4. Nguyễn Hữu Độ và Phan Đình Bình

     Đó là tấm lòng của ông đối với nước bảo hộ. Còn đối với đồng nghiệp cùng chí hướng cộng tác với mình, Ô. Nguyễn Hữu Độ đã đối xử thế nào? Chính sử ghi rằng năm 1887, dưới Triều Đồng Khánh, Ô. Độ đã tìm cách ám hại Ô. Phan Đình Bình, bằng cách mật tấu cho vua biết rằng Ô. Bình trước kia đã vận động đưa con Ô. Dục Đức là dòng trưởng, và cũng là cháu ngoại của mình, chớ không phải Hoàng tử Chánh Mông [Đồng Khánh], lên ngôi. Ô. Bình là một vị quan cao cấp hơn Ô. Độ, đã theo lệnh người Pháp, từ Bắc cùng về Kinh một lần với ông, và giữ một chức vụ xấp xỉ như ông. Đồng Khánh là một ông vua rất đa nghi, vì sợ bị các phe phái trong Triều ám hại, nên phản ứng rất dữ dội. Theo lời của một nhân chứng quan trọng là Tướng Munier, Chỉ huy quân đội Pháp ở Trung và Bắc Kỳ, thì:

Ngày 17-11, vua bất chấp mọi tập tục, đã thân đến Tòa Khâm sứ, và trong một cuộc hội nghị mật có Đại tá chỉ huy Lữ đoàn tham dự, ngài đã bày tỏ những lo sợ nghiêm trọng về sự an ninh bản thân của mình. Ngài đã nói về một âm mưu trong đó các nhân vật quan trọng của Triều đình dường như có liên lụy. 
Phan Đình Bình, Viện trưởng Cơ mật, đã bị bắt và sắp đưa ra xét xử. 
Tôi đã chỉ thị ngay cho Đại tá Callet áp dụng những biện pháp cần thiết hầu tiêu diệt mọi cuộc bắt đầu khởi loạn, và bảo đảm, với tất cả quyền lực mà ông ta có, sự an toàn cá nhân của Hoàng thượng. (1)

     Đại Nam thực lục kể thêm rằng “Bấy giờ Nguyễn Hữu Độ từ Bắc Kỳ mật tâu: Đình Bình khi ở Bắc Kỳ đề xướng... lập hoàng tôn [con vua Dục Đức, dòng trưởng], còn suy tôn nhà vua [Đồng Khánh], không phải là ý chính... Vua lấy làm giận, bèn giải chức Đình Bình, giao cho tôn nhân, đình thần xét rõ." Sau khi nội vụ được điều tra xong, đình thần đề nghị Ô. Bình và vợ phải tội chém, nhưng giam đợi lệnh. Được vua giao xét lại, Ô. Độ nói: “Việc Đình Bình can phạm là việc trọng đại, trị bằng tội phải chịu, thực không phải là oan uổng, kính thảy nhà vua xử đoán, pháp lệnh nghiêm minh, may cho tôn xã, và may cho thần dân lắm." Vua "bèn chuẩn cho theo như nghĩ định. Đình Bình rồi sau ở trong nhà giam uất ức mà chết." Chính sử đã tổng kết nội vụ như sau: “Nhà vua được lập lên là do quan Pháp và Nguyễn Hữu Độ bàn định. Đình Bình từ ngoài Bắc về, nương tựa vào người khác mà danh vị ngang nhau, nhận chức không nghi ngờ, Hữu Độ để tâm không bằng lòng, sau nhân làm việc quan có ý kiến bất đồng, nên mới bị nạn." (2) Ô. Baille, Công sứ Pháp ở Huế thời đó, có tường thuật vụ này và nêu ra khá nhiều nghi vấn, nhưng cũng như sử sách thuộc địa nói chung, không ai chỉ trích Ô. Độ là chuyên quyền hay là độc ác gì cả. (3)

     5. Nguyễn Văn Tường nhường lương cho Nguyễn Hữu Độ

     Ngoài ra, việc Ô. Nguyễn Văn Tường đã xin vua Tự Đức cho được nhường một phần bổng lộc của mình cho Ô. Nguyễn Hữu Độ lúc ông này làm Tham biện, phụ tá cho Trưởng cơ quan là Ô. Tường tại Thương bạc viện, cũng không mấy ai nhắc đến. Sự việc xảy ra vào mùa thu năm 1875 khi vua Tự Đức: 

Cấp thêm cho biện lý bộ Lại sung tham biện thương bạc Nguyễn Hữu Độ 200 quan tiền. Khi ấy Nguyễn Văn Tường tâu nói: Thần sung làm việc ở viện bạc [Thương bạc], ngoài số lương thường, hàng năm được thêm tiền bổng 600 quan, [viện {Cơ Mật} thêm được 300, thương bạc thêm 300] Hữu Độ chưa dự hàng đại thần nhưng việc công cùng giúp đỡ lẫn nhau, đều có san sẻ khó nhọc. Thần xin vâng lãnh tiền viện 300 quan, còn tiền bổng 300 quan thương bạc thêm cho, xin chờ chỉ chuẩn cho chia cấp cho tham biện Hữu Độ.
Vua không nghe, cấp thêm cho Độ hàng năm 200 quan." (4)


     6. Nguyễn Hữu Độ và “Nhóm Hà Nội”

     Dù sao, việc Ô. Độ phao ra tin vua Kiến Phúc uất ức mà chết, vì nghe tin đồn bà Hoàng mẫu mẹ nuôi của mình tư thông với Ô. Nguyễn Văn Tường, không những là do lòng căm thù cá nhân đối với vị Phụ chánh, mà còn ăn khớp với kế hoạch của một phe Pháp thuộc địa mà một số sử gia Pháp ngày nay gọi là “Nhóm Hà Nội [Clan de Hanoi]”. Nhóm này gồm những nhân vật như là Đức cha Puginier, Tướng Brière de l'Isle, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp, Ô. Silvestre, Giám đốc Chính trị và Dân sự vụ, mà chính sử ta kêu là Thượng thư bộ Lại của bên phía Pháp, và Đại tá Pernot, chỉ huy đồn Mang Cá ở Huế. Họ chủ trương tiêu diệt Triều đình Huế, và trước khi Huế thất thủ một năm, họ đã dự trù thay thế vua Hàm Nghi và hai Phụ chánh Tường, Thuyết bằng vua Đồng Khánh [sau này], cùng các ông Nguyễn Hữu Độ và Phan Đình Bình. Nhóm Hà nội, theo lời của chính Ô. Lemaire, Tổng Trú sứ tại Huế trước khi Kinh thành rơi vào tay Pháp, đã dùng mọi thủ đoạn để buộc tội Triều đình, như tố cáo rằng tất cả những thất bại, bất lợi, rắc rối xảy ra cho phía Pháp, từ Lạng Sơn cho đến Cao Mên, đều là do Triều đình, tức hai ông Phụ chánh, gây ra. (5) Tướng Brière, chẳng hạn, đã buộc tội Triều đình thông đồng với Tàu để đánh Pháp bằng cách trưng ra một tài liệu bằng chữ nho, mà Ô. Lemaire, giỏi Hán ngữ, xem lại chỉ là một văn kiện trưng thu gạo. (6) Mặt khác, Đại tá Pernot, chỉ huy đồn Mang Cá ở Huế thì cùng quân lên thành triệt hạ các đại bác và bịt ngòi hơn 200 khẩu; tập trận giả sát bờ thành Huế, cho lính dạo chơi ngay chung quanh cấm thành, đánh đập lính gác, chọc phá những quan lại ra vào, và tìm cách bắt cóc hai ông Phụ chánh Thuyết và Tường. (7) Khi tướng de Courcy từ Pháp sang với toàn quyền quân và dân sự, “Nhóm Hà Nội” tìm cách thuyết phục vị tướng này thực hiện kế hoạch, mà họ đã dự trù, là triệt hạ Triều đình Huế và hai ông Phụ chánh, như được bàn nơi khác.

D. SILVESTRE VÀ SỞ MẬT THÁM PHÁP PHỔ BIẾN TIN ĐỒN

     Trong khuôn khổ chiến dịch này của nhóm Hà Nội, việc Ô. Nguyễn Hữu Độ, theo lệnh của Ô. Silvestre, đã gởi thư nói trên cho Tướng de Courcy để ám hại Ô. Nguyễn Văn Tường, trong đó có chuyện vua Kiến Phúc chết vì uất ức, không có gì lạ. 

     1. Silvestre tung ra tin Nguyễn Văn Tường tư thông với Học Phi

     Chính Ô. Silvestre đã phao tin này ra trước tiên không lâu sau khi vua Kiến Phúc mất trong một bức thư dài trình bày kế hoạch thay thế hai Phụ chánh Tường, Thuyết và vua Hàm Nghi bằng các quan lại thân Pháp và vua Đồng Khánh. Khi kể rằng chính bà Học Phi, với tư cách Hoàng Thái phi, đã gạt Đồng Khánh để đưa vua Hàm Nghi lên vì ông này là con nuôi của bà, ông nói tiếp trong một ghi chú đặc biệt, mà LM Delvaux sẽ rao lại về sau này, rằng “Người ta quả quyết rằng [On assure que]" bà Học Phi đã trở thành tình nhân của Phụ chánh Tường từ ngày vua Tự Đức mất. (8) Tưởng cũng nên lưu ý ở đây rằng từ sau khi đánh Cửa Thuận và áp đặt Hiệp ước 25-8-1883, Tổng ủy Harmand đã chính thức thành lập một sở Tình báo [Service de renseignements] để thu thập hay phao dựng tin tức về chiến tranh chính trị. Sở này, được đặt dưới quyền Ô. Masse, là người đi theo Phái đoàn Patenôtre, đã tuân lệnh Thủ tướng Jules Ferry để dịch sai điều 1 và điều 7 của Hiệp ước 6-6-1884 để gạt phía Triều đình, như đã nói ở chương 1 trước đây. Ô. Masse rất thông thạo chữ nho và Việt, và đã từng làm việc với các Thừa sai Pháp và Y để thực hiện các công tác khám phá những hành động chống đối của các quan lại Việt Nam. (9) Sở Tình báo này được thiết lập vĩnh viễn trong bộ máy hành chánh Bảo hộ của Pháp, và dĩ nhiên đặt dưới quyền của Ô. Giám đốc Dân sự và Chính trị sự vụ, là Silvestre, để giúp ông này làm những công tác chiến tranh tâm lý như loại này. Mặc dầu vậy, đồ đệ của Ô. Silvestre là Ô. Nguyễn Hữu Độ, một người rất biết phòng hậu, trong thư mà mình ký gởi Tướng de Courcy, như đã nói trên, chỉ dám nói bóng gió về câu chuyện mà thôi, chứ không nói đến việc điều tra câu chuyện như Ô. Silvestre đã dựng ra, vì nhân chứng và bị cáo quan trọng nhất là bà Học Phi còn đó và sẵn sàng trả lời Ô. Độ. Dù sao, rồi từ đó, tin đồn này được tiếp diễn dưới không biết bao nhiêu hình thức, tùy theo trí tưởng tượng của mỗi người viết sử. 

     2. Các nhà viết sử phổ thông Việt

     Trong một cuốn sử giáo khoa có tầm ảnh hưởng sâu đậm nhất vào hai ba thế hệ người Việt Nam cho đến ngày nay, tác giả Trần Trọng Kim viết: “Có chuyện nói rằng: khi vua Kiến Phúc se mình, nằm trong điện, đêm thấy Nguyễn Văn Tường vào trong cung, ngài có quở mắng. Đến ngày hôm sau, thì ngài ngộ thuốc mà mất.” (10) Tác giả không cho biết tin này lấy từ đâu. Rồi trong cuốn Hạnh thục ca, do ông phiên âm và chú thích, mặc dầu tác giả Nguyễn Nhược Thị không đả động gì đến câu chuyện này, sử gia họ Trần cũng ghi dài thêm một chút, rằng: 

Vua Kiến Phúc mất, có một điều rất bí ẩn, là người ta nói rằng: ngài mắc bệnh đậu mùa, nằm trong điện, đêm nghe tiếng giày đi. Ngài hỏi ai đi đó, thì thấy Nguyễn Văn Tường tâu rằng: “Tôi". Ngài quở rằng: “Đêm hôm thầy vào làm gì trong cung?” Tường không nói gì, rồi sáng hôm sau thì vua Kiến Phúc mất. Người ta nghi là Tường cho thuốc độc giết vua. Việc này chưa rõ thực hư thế nào, nhưng cũng ghi vào đây là một chuyện đáng ngờ. (11)

     Sử gia Phạm Văn Sơn thì đi xa hơn một chút nữa trong cuốn Việt sử toàn thư (Sài Gòn: Khai Trí, 1960).(12) Ở trang 460, chú thích 121, tác giả nói đó là tin đồn, nhưng ông lại có vẻ coi như là tin thiệt, vì dựa theo đó ông cho rằng vua Kiến Phúc chết không phải vì lý do chính trị, như một số sử gia khác đã nói: “... Theo dư luận ở Huế nhà vua bị đầu độc do tay bà Học Phi và Nguyễn Văn Tường. Hai người này tư thông với nhau. Nhà vua biết được đang sẽ trừng trị việc thông gian thì Tường ra tay trước. Cái chết của vua Kiến Phúc như vậy không phải là vì chính trị”. Rồi cũng trong sách đó, đến trang 465, thì tác giả mặc nhiên cho tin đó là thật, chớ không phải là tin đồn nữa, vì bây giờ ông lại nói: “Vua Kiến Phúc ở ngôi được hơn 6 tháng và mất ngày mồng 7 tháng 4 năm Giáp Thân [1884] trong một trường hợp vô cùng thê thảm như trên đã kể.”


     Sử gia Phan Khoang, thận trọng hơn, và có vẻ có thiện cảm hơn với Ô. Tường:

Vua Kiến Phúc chết vẫn còn bí mật. Có người nói Nguyễn Văn Tường bỏ thuốc độc giết vua để làm mất vị Quốc-trưởng đã lập Hòa ước Giáp Thân với Pháp; có người nói là bà Học-phi Nguyễn-thị [vợ vua Tự-đức] là mẹ nuôi của vua Kiến-phúc có tư tình với Nguyễn Văn Tường, một hôm, nhân vua đau, Tường vào thăm có trò chuyện với bà, vua nghe và có hăm dọa, Tường thấy nguy, xuống Thái-y-viện bốc một thang thuốc để dâng vua uống, ngày hôm sau thì vua băng. Nhưng phân đông đều cho là vua chết vì bệnh. (13)

...(còn tiếp)...

👉 Mời xem ngay tại: https://nguyenvantuong.khaitam.com

[Chú thích]
(1) Thư, 4-12-1887, Munier gởi Tổng trưởng Chiến tranh, AMAE, Mém. & Doc, Asie, V. 73, fo. 63, NQT dịch.
(2) ĐNTL, XXXVIII, 23-27.
(3) Frédéric Baille, Souvenirs d'Annam (1886-1890) (Paris: Plon, Nourrit et Cie, 1891) (Dẫn tắt là: Baille), 107-114.
(4) ĐNTL, XXXIII, 258.
(5) Thư Lemaire gởi de Freycinet, 7-4-1885. SHAT 10H 3 [ex carton 3], dẫn do Charles Fourniau, Annam-Tonkin, 1885-1896: lettrés et paysans vietnamiens face à la conquête coloniale. [Paris: l'Harmattan, 1989), 29. (Dẫn tắt là: Fourniau, Annam).
(6) SOM. A30 [72] 2-1885, dẫn do Fourniau, Annam, 29, ct. 31.
(7) Thư Lemaire gởi bộ Ngoại giao, 9-4-1885. SOM A30 [72], dẫn do Fourniau, Annam, 30; Thư Pernot gởi Brière de Isle. SHAT 10H 6 [ex carton 9]; sự kế thừa Tướng de Courcy. Thư tín Pernot-Brière 4-5-1885, dân do Fourniau, Annam, 30; "Thư: Lại bộ Thượng thư Nguyễn Văn Tường gởi Nguyên soái Pháp tại Tahiti". Tiếng Sông Hương 1994, 126-127 Dịch từ Lộ Giang Tiểu Sử của Nguyễn Văn Mại]. Sẽ dân là: “Thư Nguyễn Văn Tường gởi Nguyên soái Tahiti". TSH 1994, Xem Phụ lục.
(8) Thư số 404, 19-11-1884, Silvestre gởi Lemaire, AMAE, Mém. & Doc., Asie, V, 46, fo. 235. Xem thư ở phần Phụ lục.
(9) Thư, 15-12-1883, Harmand gởi Hải quân, và Thư, 3-3-1884, Hải quân gởi Ngoại giao, AMAE, Mém. & Doc., Asie, V. 43, fo. 111-112.
(10) Việt-nam sử-lược, Sài Gòn, Bộ Giáo dục xuất bản, 1971224 ct. 175. (Dẫn tắt là: TTK, Việt sử).
(11) Hạnh thục ca, 31, ct. 1. 
(12) PVS, Toàn thư. 
(13) PK, Pháp thuộc sử, 339, ct. 1.