NGUYỄN VĂN TƯỜNG TƯ THÔNG VỚI HỌC PHI, GIẾT KIẾN PHÚC? - KỲ 4

20/08/2020

 

3. Sự tiểu thuyết hóa, hay tiếu lâm hóa lịch sử thuộc địa 

 

Dần dà với thời gian, những tin đồn và suy diễn của các tác giả Pháp thuộc địa đã nghiễm nhiên trở thành sự thật ngày nay.

 

a. “Cụ Phó bảng Cư” và “Cô Yến” ở bến Vân Trình 

 

Gần đây, năm 1996, theo một học giả xứ Huế, câu chuyện đã được tường thuật với nhiều tình tiết được thi vị hóa: 

 Cụ Phó bảng Cư,..., kể lại cho tôi nghe rằng: sinh tiền, vua Tự Đức ưa đi thăm dân... Đến làng Vân Trình,... Phong Điền. Ngài từ phá Tam Giang đi ngược lên gặp mưa to gió lớn, bèn ra lệnh ghé bến Vân Trình, thì vừa thấy trên bờ sông một thiếu nữ kiều diễm đang núp mưa dưới lùm tre. Vua rất lấy làm vừa ý, liền hạ lệnh tuyển vào Cung, phong là “tài nhơn”, về sau được phong “tam giai phi”. Bà này tên Yến, tức là bà Học Phi trong sử sách. Sự việc này đã khiến cho dân làng Vân Trình đặt câu phong dao:

Trời xui có trận mưa giông, 

Khiến con chim én vào trong đền vàng.

Về sau này có sự cấu kết giữa Nguyễn Văn Tường và bà Học Phi là người đã đưa chén thuốc [nấu theo toa của Nguyễn Văn Tường và tự y đã thêm chất hồng hoàng vào] ép vua Kiến Phúc uống, rồi sáng hôm sau thì vua chết! (1)

 

Với vị sử gia miền sông Hương núi Ngự này, có thêm một bước tiến nữa, là Ô. Tường đã “thêm chất hồng hoàng vào" thuốc cho vua uống. Rất tiếc là về việc tố cáo một đại thần bỏ thuốc độc giết vua, quan trọng như vậy, mà tác giả không cho biết rõ xuất xứ từ đâu, ngoài “Cụ Phó bảng Cư". Tuy nhiên, mặc dù bài viết không có thư tịch, không chú thích nguồn gốc tài liệu [trừ một vài chỗ], và chắp nối đoạn này mâu thuẫn với đoạn kia [xem trang 81 và trang 102 về cái chết của Ô. Trần Tiến Thành, chẳng hạn], nó đã được đăng lại với đôi chút sửa đổi về hình thức và bỏ bớt một đoạn sau, vào cuốn sử mới hoàn thành năm 2002 của tác giả Hoàng Cơ Thụy, với tư cách là một bài “Sưu khảo”. (2) Ngoài ra, chuyện Ô. Nguyễn Văn Tường và bà Học Phi cũng được học giả họ Hoàng nhắc đi nhắc lại, lúc hư lúc thực, trong bộ sử đồ sộ đó của mình. (Ví dụ: t. 1271-1272, 1327). 

 

b. Mối tình lãng mạn giữa một ông vua già và một cô gái quê?

 

Cũng mới đây, năm 2001, một sử gia miền Quảng Trị, trong một cuốn sách tự xuất bản, đã cho thêm vài chi tiết đáng chú ý, mà vị học giả xứ Huế nói trên có lẽ chỉ ám chỉ thôi, như: "... Học Phi, một người trẻ đẹp. Tự Đức đã gặp Bà khi ông ngoài 50 tuổi, mối tình lãng mạn giữa một ông vua già và cô gái quê mới 15, 16 tuổi.” (3); và bà “tên là Yến, người họ Nguyễn ở làng Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên" (t. 278); và Nguyễn Văn Tường, sau khi “lấy thuốc đã pha chế sẵn, gia giảm chút ít rồi đưa cho Bà Học Phi để chính tay Bà trao cho vua uống. Kiến Phước được bà Học Phi nuôi khi còn nhỏ, thương yêu như con ruột. Vua cũng thương bà như mẹ đẻ vì bà vừa trẻ đẹp, vừa khôn khéo... rất được lòng vua. Chính tay mẹ trao thuốc cho con uống thì còn nghi ngờ gì nữa.” (4)


E. MỰC ĐỘ KHẢ TÍN NỘI TẠI CỦA NGUỒN TIN VUA KIẾN PHÚC BỊ ĐẦU ĐỘC

 

Mặc dầu câu chuyện phát xuất từ một tin đồn với ác ý do giới người Pháp thuộc địa tung ra để hạ uy tín của một vị đại thần chống Pháp, nhưng vì nó lưu truyền dai dẳng trong lịch sử cho đến hiện tại, tưởng cũng nên mổ xẻ, phân tích xem nó có dựa trên một cơ sở nào vững chắc không. Một nhận xét đầu tiên, là người đã bịa đặt ra câu chuyện tỏ ra không thông hiểu gì về lịch sử Việt Nam, về sự quan trọng đặc biệt của nghi lễ trong việc cai trị nói chung, cũng như các quy tắc, thủ tục liên quan đến các họat động hằng ngày, công hay tư, của vua. Các nghi thức này được sửa đổi, cải tiến qua kinh nghiệm sống để bảo vệ sự trường tồn của triều đại và an ninh, tính mạng của vua. Bộ Lễ là một bộ quan trọng vào bậc nhất, và cùng với Đô sát viện, có nhiệm vụ đốc xuất sự áp dụng đúng đắn và chặt chẽ các nghi lễ của Triều đình.

 

1. Ô. Tường và Bà Học Phi không thể vào phòng ngủ của vua

 

Chính sử nhà Nguyễn đã ghi lại không biết bao nhiêu trường hợp các quan lớn nhỏ bị trừng phạt nặng nhẹ vì đã vi phạm nghi lễ, như trang phục không đúng, không cất mũ hay xuống ngựa, khi đi vào, hoặc ngang qua, một cung điện, hay dinh thự nào.

 

a. Sự trừng phạt nghiêm khắc các vi phạm nghi lễ

 

Mùa thu năm Giáp Tuất (1874), Trấn Tĩnh Quận công Miên Dần "phụng mệnh trông coi tế thu hưởng, ông lại mặc áo trắng đi vào cửa bên trái của miếu, bị bộ Lễ trích tội nên giáng xuống làm Đình Hầu” (5), hay “Đổng lý tang nghi là Nguyễn Khoa Luận nhân vì trời mưa, đội nón đi vào dưới thềm cửa Khiêm Cung. Trực thần khoa đạo tâu lên tham hặc, Luận phải giáng [2 cấp] đổi đi nơi khác." (6) Ngồi trên thuyền riêng của mình mà không tỏ vẻ cung kính khi gặp thuyền vua đi qua cũng bị phạt nặng:

...thống chế tạm giữ Trung quân là Đinh Hội, sung vào hành doanh, vì can tội bất kính [thuyền của Hội chợt gần với thuyền vua ngự, Hội ngồi nghiêm chỉnh đàng sau thuyền, không có giáng cung kính], án xử phải cách chức. Thượng thư là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường dâng sớ tâu: Đinh Hội xuất thân là cử vũ, theo làm việc ở hàng ngũ, khoảng 40 năm nay, cũng gọi là khó nhọc, nay đã 72 tuổi phải cách về, không khác gì dân thường tình cũng đáng thương.

Vua bảo rằng: Hội là cố ý phạm tội, hai thuyền rất sát gần nhau, há lại không biết, thế mà nghiễm nhiên ngồi cao, như không để vào trong mắt, lòng hắn thực không thể biết được. Trẫm giao đình thần xét nghĩ, thực đã cẩn thận về hình phạt, vốn không phải lấy sự nhầm nhỡ mà bắt tội người. Bèn giao đình thần bàn nghĩ lại tội. Đình thần xin theo chỉ trước, để tỏ rõ lễ phép của kẻ làm tôi, không trừng phạt không được: cho giáng làm phó vệ úy quân Cấm binh, do bộ xét bổ. (7)

 

Đúng theo nghi lễ, Ô. Hội đáng lẽ phải “cấp tốc đỗ thuyền vào bờ sông, gác chèo ngồi xuống, nghiêm túc không ồn ào”, như một chỉ dụ Minh Mạng năm đầu đã quy định, vì “nếu dám đi ngang qua thuyền vua, hoặc từ xa mà cùng đi song song", thì là phạm tội "xông đội nghi trượng”. (8)

 

Thu năm 1883, dưới thời Hiệp Hòa, Phó sứ ty Từ tế hữu là Hồng Tế đã bị cách chức và “trảm giam hậu” sau khi bị Khoa đạo là Lưu Khắc Nhật hặc về các hành động vi phạm nghi lễ như sau: “Mặc áo trắng đi giày đi lại ở trước điện, thẳng đến chỗ 9 đỉnh xem huy hiệu, bảo lính lấy đồ đồng thờ các vị tòng tự múc nước giặt áo, cho gánh nước đem đến trong cửa Sùng Thành tắm gội và chửi mắng binh đinh trong ty.” (9)

 

b. Không quan chức nào được vào chỗ vua và gia đình ở

 

Cung thành, nơi vua và các bà vợ vua lưu trú là Tử cấm thành, chỉ có nữ quan, thái giám và cung giám có nhiệm vụ phục vụ hầu hạ gia đình vua mới được ở lại mà thôi. Đời sống trong Cung của vị nguyên thủ, lúc còn đôi chút rỗi rãi, theo lời vua Thiệu Trị, chỉ là “đối tiếp với đàn bà và bọn hoạn quan.” (10) Cung thành có 7 cửa ra vào, và nằm trong Hoàng thành; với 4 cửa ra vào, Hoàng thành nằm trong Kinh thành, hay thành Kinh sư với 10 cửa ra vào. Sự canh gác, bảo vệ cung điện, vườn ngự, cửa thành và kiểm soát ra vào được quy định và thực hiện hết sức nghiêm ngặt. (11) Ngay những chỗ vua đi dạo chơi đều là cấm địa, mà chính anh em ruột thịt của vua cũng không được lui tới. Dưới thời Thiệu Trị, chẳng hạn, vào cuối xuân Bính Ngọ (1846):

...Vua đi chơi vườn Cơ hạ, triệu quân túc vệ diễn tập hàng ngũ. Các hoàng đệ là Miên Định, Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên Tống, Miên Thanh bỗng vào hầu. Vua giận, nói rằng: “Đây không phải là nơi thường chầu hầu, không tuyên triệu thì không được vào, nếu đường đột thì phải tội, và không biết ngăn lại cũng phải tội, đem ngay quân vệ là bọn Nguyễn Huyên, Nguyễn Tuấn phạt trượng, các hoàng đệ và biền binh giữ cửa đều bị giao cho bộ Hình, hội đồng với viện Đô sát nghị xử. Các công đều phải phạt bổng 5 năm; ba người canh cửa phải tội giảo giam hậu. Các quan khoa đạo là bọn Vũ Duy Ninh... 10 người, cho là xử tội rất nặng, tâu xin xét lại. Vua quở rằng: “Tự tiện vào chỗ vua ngự, thì phải tội thắt cổ; quan canh cửa cố ý cho vào, cũng phải tội như thế, có điều luật rõ ràng. Không biết bọn khoa đạo có ý kiến gì dám bác lời bàn của nhiều người mà bênh vực kẻ canh cửa?" Bèn sai bộ Lại đòi tất cả đến ngoài cửa đại cung xét hỏi. Bọn Duy Ninh đều cúi đầu nhận tội. (12)

 

Chỗ nào vua trú ngụ khi du hành đều được xem là cấm địa. Cuối năm Nhâm Dần, 1842-1843, vua Thiệu Trị đi thăm Hiếu lăng [lăng Minh Mạng] và ở lại hành cung An Bằng, Thái Trưởng Công chúa Ngọc Nguyệt, con gái thứ 9 của vua Gia Long, em của vua Minh Mạng, và là cô của vua Thiệu Trị “đi võng mang theo người cầm dao, thẳng vào cửa hữu võng thành, qua trước tấm màn xanh, xuyên sang cửa tả đi ra. Bọn suất đội Trần Bản không ngăn giữ. Quan hành doanh đại thần Hà Duy Phiên sai người đuổi theo hỏi kẻ cầm dao, tên chủ nô [theo công chúa] là Chu Văn Linh không chịu trở lại. Duy Phiên đem việc ấy hặc tâu." Vua rất bất bình, nói rằng: “chỗ ngự doanh đóng đã có điều luật chỉ rõ... phàm kẻ nào xông vào chỗ cấm, bất luận là hoàng thân hay quốc thích, chuẩn cho bắt ngay tâu lên, thế mà nay lại có sự phòng ngừa sơ hở như vậy!" Mọi sự được giao xuống cho Tôn nhơn phủ, và 2 bộ Binh, Hình tra xét nghị tội. Kết cục, người cầm dao đi theo võng Công chúa Ngọc Nguyệt bị xử "giảo giam hậu" [thắt cổ nhưng giam chờ vua xét định], Công chúa “bị phạt bớt lương 4 năm" và chồng là Phò mã đô úy Nguyễn Đức Hựu, con cố công thần Nguyễn Đức Xuyên bị “cách, lưu" [cách chức, lưu dụng]. Những người đã không ngăn giữ đều bị tội nặng nhẹ theo thứ bậc. (13)

 

c. “Tự tiện vào cửa cung điện" có thể bị tử hình

 

Ngay cả con cái của vua cũng vậy. Khi vua Thiệu Trị đau nặng và gần mất, người con được chỉ định nối ngôi là vua Tự Đức phải cùng các anh em và các đại thần túc trực ở gần trong Cung và đợi có tuyên triệu mới được vào. Trong Khiêm cung ký, vua Tự Đức đã kể rằng "... ngày đêm khăn áo không dám cởi, ăn ngủ đều kém, mỏi quá thì dựa vào cột ngủ tạm, nghe gọi vời thì hồn vía không còn, lập tức theo trung sứ vào hầu, đều là bổn phận phải thế...” (14) Sự áp dụng nghi lễ lại càng nghiêm chỉnh và chặt chẽ hơn nữa, khi những người có trách nhiệm coi sóc nghi lễ cũng bị trừng phạt nặng nếu, vì một lý do gì, lơ là hoặc nể vì sợ sệt, không tố cáo các vi phạm. Năm 1875, vua Tự Đức đã trừng phạt các hoàng thân Miên Trữ, Miên Dần và hai quan viên đã cư xử thiếu đứng đắn trong buổi triều yết dành cho sứ Pháp Rheinart. Không những:

 4 người ấy cho đều phạt lương một năm, các viên khoa đạo dự vào kiểm sát lễ nghi không biết xét hặc, đều phạt lương 9 tháng. Vương công phủ tôn nhân và tôn khanh 2 bên tả, hữu, ngày thường không biết dạy bảo, đều phạt lương 3 tháng, tạm trừng phạt nhẹ, để răn người không biết cấm ước. Phép vua không vị người thân, lời trẫm không nói hai lời, phải đều kính theo, chớ coi thường. (15)

 

Nếu quả thật vua Kiến Phúc có hỏi Ô. Nguyễn Văn Tường ban đêm mà vào chỗ ở của vua làm gì, như sử gia Trần Trọng Kim đã kể, hay có đòi chém đầu ba họ ông phụ chánh, như LM Delvaux nói, thì Ô. Tường đã phạm các tội “tự tiện vào cửa cung điện" và có thể bị xử đến tử hình theo luật này, như sau: 

Phàm kẻ nào không có phận sự mà tự tiện vào cửa Tử cấm thành, cửa Ngọ Môn, Đông Hoa, Thần Vũ [tức nay là các Cửa tả, hữu, Đoan môn, Hiển Nhân, Chương Đức, Củng Thần] cùng là vào vườn cấm thì đều phải phạt 100 trượng. Tự tiện vào các cửa cung điện thì phải phạt 60 trượng, đồ 1 năm, Tự tiện vào nơi làm cơm của vua và chỗ vua ở phải tội giảo [giam hậu]; nếu chưa qua bậc cửa thì đều được giảm nhẹ xuống 1 bậc. Nếu kẻ nào không có tên trong sổ được vào cửa, mạo nhận tên trong sổ của người khác mà vào, [kể cả đã hay chưa qua bậc cửa] cũng phải tội như thế. (16)

 

Với việc ấn định và áp dụng các nghi thức về việc vua ăn uống, giải trí, uống thuốc, tiếp kiến các quan thảy đều cẩn trọng như vậy, không làm gì có thể xảy ra việc Ô. Nguyễn Văn Tường đầu độc vua, và việc Ô. Tường cùng bà Học Phi cùng ở trong một phòng với vua, như người ta tưởng tượng xảy ra như ngày nay được.

 

2. Thủ tục vua uống thuốc và chữa bệnh 

 

Minh Mạng năm thứ 16, "ban sắc; từ nay viện Thái y có dâng thuốc vua dùng, thì cho viện Cơ mật hội cùng Nội Các kiểm soát”, và “nghị chuẩn: Sổ của viện Thái y dâng thuốc giao cho quan viện Cơ mật vâng giữ." (17) Sau đây là thủ tục dâng thuốc lên vua, được áp dụng từ năm Thiệu Trị thứ 6

 ... viện thái y chọn thuốc dâng lên vua dùng, do các viên viện sứ, ngự y, viện phán cùng với thị vệ thần, viên ngoại lang ty cẩn tín, đến phủ Nội vụ hội đồng 4 nha, chiếu từng hạng các vị thuốc chọn lấy thứ tốt thượng hạng, đáng dùng làm thuốc vua uống, thì kính cẩn xem xét chia hạng đem về sở ngự dược, hội đồng với xứ thị vệ đem bào chế đúng phép. Những người làm việc ấy chuyên do các viên viện sứ ngự y, viện phán cùng y chính, y phó viện ấy chính mình xét làm cho tinh khiết, khi ấy nếu thiếu người làm việc thì do thị vệ thần phái thị vệ các bậc đến làm phụ. Từ nay có bào chế thuốc vua dùng, đều phái thuộc viên đến xem xét. Nếu thấy thuốc không tốt thì cho đem việc ấy tâu lên hạch rất nghiêm. (18)

 

Ở viện Thái y luôn luôn có các quan ngự y túc trực, và có việc gì phải hội với nhau lại mà làm: “... Viện Thái y nguyên là chỗ cẩn mật... Nay cho lấy hiên bên tả nhà dưỡng chính đường cũ làm sở ngự dược [thuốc vua dùng] Ngự y cùng các viên kiêm quản viện Thái y đều túc trực ở đây. Còn nhân viên thuộc viện đều túc trực ở viện cũ, cho có phân biệt. Gặp có việc công cần làm cho hội lại mà làm." (19)

 

Việc xem mạch cho vua cũng được ấn định rất cẩn trọng. Chỉ những ngự y có tên tuổi và được chỉ định đích danh mới được ban bài ngà để vào cung xem mạch. (20) Thủ tục bốc thuốc cho vua, do một học giả tóm lược, căn cứ vào tài liệu của ông Bửu Kế về quan ngự y Nguyễn Duy thời Tự Đức, cũng phù hợp với những gì nói trên: 

Chẩn mạch xem bệnh xong, viên viện sứ và ngụ y phải họp hội đồng quan ngự y lại. Hai ông trình bày bệnh trạng của vua, khi mọi người đều đồng ý, lúc đó mới ra phái với chữ ký của tất cả những người đến tham dự. Nếu bệnh nhẹ thì bỏ vào một phong bì vàng, trên đề tên các vị thuốc, cân lượng, và cách thức sắc nấu. Phong thuốc đưa cho thái giám dâng lên cho vua. Một Cung nga lấy thang thuốc ấy đổ ra để nấu trước mặt một viên thị vệ. Gặp trường hợp vua bị bệnh nặng, thuốc vẫn đưa lên cho vua xem, nhưng sắc nấu tại Thái y viện trước mặt một hội đồng có quan cơ mật, một ông của viện Đô sát, một của Nội các và một của Thái y viện. Trường hợp vua vì uống xong mà chết thì ông ngự y bị giam lại. (21)

 

Thủ tục bốc thuốc cho vua do các học giả nói trên mô tả có thể là sự ứng dụng chi tiết trong thực tế của các điều lệ phụ chép trong bộ Hội điển sự lệ nói trên về cách “Pha chế thuốc của vua":

 Ngự y đến nơi chứa thuốc trong nội thái và chế các vị thuốc, quan ở viện ấy phải xem mạch coi bệnh của vua, tham xét so sánh, hội đồng với viên cận thần đến nơi chứa thuốc trong nội để bốc thuốc, đem những vị thuốc đã bổ thành thang ấy kê ra từng vị rồi niêm phong lại, làm bản khai rõ là phương thuốc gì, tính của các vị thuốc ấy thế nào, chuyên trị bệnh gì, ở dưới biên ngày tháng, ngự y và viên cận thần ký tên vào rồi dâng lên, làm quyển sổ dâng thuốc, khi bản tâu đã xong, phải dâng ngay số phụ ấy, ký tên vào dưới chỗ biên ngày tháng. Viên cận thần thu giữ để phòng khi kê cứu đến. Việc đem sắc thuốc của vua, quan ở viện ấy cùng viên cận thần phải trông coi sắc 2 nước, dồn lại làm một, đợi thuốc đã kỹ, chia ra làm 2 bát, 1 bát viên ngự y nếm trước, rồi đến viên viện phán, rồi đến viên cận thần nếm cả; còn một bát thì dâng lên. (22)

 

Thủ tục vua uống thuốc chặt chẽ như vậy thì làm sao mà Ô. Nguyễn Văn Tường có thể xuống Thái y viện tự ý bỏ thêm chất hồng hoàng đầu độc vua mà câu chuyện không bị vỡ lở và chính sử nhà Nguyễn nêu ra, nhứt là khi bộ sử này được soạn dưới thời Pháp thuộc, và không thể nào có thiện cảm với “quyền thần" Nguyễn Văn Tường được? 

 

3. Vấn đề quan đến gần vua và các bà vợ vua

 

Ngoài ra, chuyện Ô. Tường vào phòng ngủ của vua và gặp bà Học Phim 3 người với nhau mà thôi cũng không thể nào xảy ra được, vì nghi lễ không bao giờ cho phép như vậy.


a. Nghi lễ giao tiếp giữa vua quan

 

Các quan, dù cao cấp đến đâu, cũng chỉ liên lạc với vua bằng 3 cách chính: trước sân rồng khi thiết triều, hoặc qua tấu sớ viết ra, hoặc khi được triệu vào chầu. Sử gia Trần Trọng Kim đã mô tả việc vua Tự Đức và các quan làm việc như sau: 

 Thường ngài ngự triều tại điện Văn Minh... Khi ngài đã ngự ra, thì thái giám tuyên triệu các quan vào chầu. Các quan đều mặc áo rộng xanh, đeo thẻ bài đi vào, quan văn bên hữu, quan võ bên tả.

[...]

...bộ nào có việc gì tâu thì đến chỗ tấu sự quỳ tâu. Như bộ nào có tâu việc gì thì các quan ấn quan trong bộ ấy đều quỳ chỗ tấu sự, rồi ông nào tâu, thì đọc bài diện tấu. Một bên các quan tấu sự lại có một ông quan nội các và một ông ngự sử đều quỳ. Quan nội các để biên lời ngài ban; quan ngự sử để đàn hạch các quan phạm phép.

[...] 

Ngài thường làm việc ở chái đông điện Cần Chánh... Ngài làm việc một mình, vài tên thị nữ đứng hầu để mài son, thắp thuốc hay là đi truyền việc.

[...]

Lệ nước ta xưa nay các quan không được vào chỗ ngài ngự tọa làm giúp việc cho vua, cho nên việc lớn, việc nhỏ, ngài phải xem cả.

[...]

Phiến sớ các nơi đều gởi về nội các. Nội các để trong tráp tấu sự, đưa cho giám, giám đưa cho nữ quan dâng lên ngài. Ngài xem rồi giao nội các. Nội các giữ bản chính có châu điểm, châu phê, lục bản phó ra cho các bộ nha. (23)

 

Vào cuối năm Tự Đức thứ 23 (1870), vua ra dụ minh định rõ thêm rằng:

...những hoàng thân và quan viên phàm có tâu việc ở nhà duyệt thị phải do thị vệ, thái giám chuyển vào nhờ nữ quan tâu giúp, không được đi thẳng tới nữ quan. Nữ quan phàm việc tâu lên cũng phải đem tên thái giám, cung giám tâu rõ để được biết rõ. Còn thái giám, cung giám và nữ quan, không phải là việc công, không được đến với quan viên trong ngoài và hoàng thân mà trò chuyện yết kiến riêng, trái lệnh thì theo tội nặng nghiêm trị. Thị vệ và quan viên biết mà không hặc tội phát giác thì cũng phải tội cả... (24)

 

Chính tác giả Nguyễn Lý Tưởng, người tố cáo Ô. Tường về việc nói trên, cũng đồng ý về điểm này, và nói:

Thông thường, các quan không được vào khu nội cấm, lính thị vệ cũng phải ở ngoài, chỉ có thái giám mới được vào đó mà thôi. Nếu có lệnh triệu hồi, cũng phải giữ đúng lễ, hai bên phải đứng cách xa nhau, các quan không được nhìn mặt vua, hoàng hậu... Vua và hoàng hậu ngồi trên ngai, các quan phải đứng dưới ba cấp và cách xa một khoảng theo luật định vì lý do an ninh của bậc Đế vương. (25)

 

b. Vợ vua và các quan không bao giờ thấy mặt nhau

 

Theo điển lệ nhà Nguyễn, Hoàng hậu chỉ được tôn lập sau khi vua chồng đã mất, nên không có việc Hoàng hậu ngồi trên ngai bên cạnh vua khi thiết triều. Trong những dịp khác, như ăn tiệc, vua cũng chỉ ngồi một mình một bàn mà thôi. Đó là hậu quả của luật “thùy liêm thính chính" hay "vén màn nghe chính sự" cấm các bà vợ vua tham gia vào chính sự để phòng ngừa việc tiếm ngôi của họ ngoại nhà vua. Khi tiếp quan khách, nghi lễ cũng buộc các bà phải có một bức màn che để hai bên có thể nghe nói, nhưng không thể thấy mặt nhau. Bà Học Phi, sau khi vua Kiến Phúc mất, lấy tư cách là Hoàng Thái phi, triệu tập các Tôn nhân và Đình thần trong đó có Phụ chánh Nguyễn Văn Tường, để nghe bà công bố di chúc bằng miệng của vua Kiến Phúc truyền ngôi cho vua Hàm Nghi. Đó là một dịp duy nhất hay rất hiếm hoi mà bà và Ô. Tường gặp nhau nhưng cũng không hề thấy mặt nhau, vì bà ngồi sau bức màn che. Như vậy, khó lòng xảy ra tiếng sét ái tình giữa hai người như thiên hạ có thể tưởng tượng ngày nay. Biệt lệ sau đây về việc Khâm sứ Pháp de Champeaux xin vén bức màn để thấy mặt Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ, xác nhận nguyên tắc chung đó. Hạnh thục ca có kể lại chi tiết “động trời" này nhân khi Ô. de Champeaux đến yết kiến bà Từ Dũ để xin cho Hoàng tử Chánh Mông [Đồng Khánh] lên ngôi thay vua Hàm Nghi đã xuất bôn: 

...

Cải đồ ngõ nước mau yên, 

Tham bô [de Champeaux] khâm sứ xin lên tâu bày

Sự này mới thấy xưa nay,

Chẳng cho thời sợ, biết rày làm sao.

Hãy cho, thử việc thế nào,

Minh khiêm truyền chọn để vào triều thăm.

Ỷ không biết phép nước Nam,

Rằng: “Cho thấy mặt biết cam thửa lòng.

Gởi xin tạm cuốn sáo rồng,

Yết rồi bỏ xuống ngỏ cùng hỏi han".

Lạ lùng diện mạo y quan,

Dạ xoa mẽ dáng [vẻ ngoài] kinh hoàng xiếc mô.

Tiếng như chim sóc líu lo,

Nguyễn Hoành [Cha Hoằng] thông dịch phân phô mới tường. (26)

 

4. Tại sao vua Kiến Phúc uống thuốc do một người đồng phạm trao?

 

Mặt khác, cho dù việc ba người có ở chung một phòng như câu chuyện đã dựng ra, vì Phụ chánh Nguyễn Văn Tường đã lạm dụng quyền thế, vi phạm thể lệ mà không bị đàn hặc hoặc chính sử ghi lại, độc giả vẫn còn một vài thắc mắc khó lòng đả thông được: Nếu vua Kiến Phúc đã để ý thấy những cử chỉ thân mật giữa Ô. Nguyễn Văn Tường và bà Học Phi nhiều lần, và có bắt quả tang một lần và hét lên đòi chém ba họ Ô. Tường, như LM Delvaux kể, thì tại sao vua không đòi chém luôn ba họ bà Học Phi là người đồng phạm, mà còn dám uống thuốc do bà trao cho? Tác giả Delvaux thì nói vua uống theo lời khuyên của Bà, tác giả Thái Văn Kiểm thì nói bà ép vua Kiến Phúc uống, tác giả Nguyễn Lý Tưởng thì nói “Chính tay mẹ trao thuốc cho con uống thì còn nghi ngờ gì nữa.” (xin xem lại các trích dẫn đã ghi trên). 

 

5. Vấn đề trung thực trí thức

 

Hơn nữa, lối viết sử của các vị nói trên có phần đặc biệt và khó hiểu. Một tác giả nói Ô. Tường thêm vào thang thuốc chất hồng hoàng, được hiểu như là độc dược, để giết mà chả cho biết xuất xứ từ đâu (xin xem trích dẫn ở trên): từ “Cụ Phó bảng Cư", hay từ LM Delvaux, hay do chính tác giả tưởng tượng ra? Một tác giả thì viện dẫn Linh mục này, nhưng lại kể không giống những gì vị Thừa sai đã nói, như sau:

Theo tài liệu của A. Delvaux trong "Quelques precisions sur une periode froublée de l'Empire d'Annam” [Những sự thật về một giai đoạn khủng hoảng của triều đình Huế) thì Tường đã vấn một điếu thuốc lá trao cho Bà Học Phi, vừa lúc vua tỉnh cơn sốt mê mang, mở mắt ra và chứng kiến cảnh đó. Vua đã giận dữ nói rằng: “Tao lành rồi, tạo sẽ chặt đầu ba họ nhà mi". Các tác giả khác thì giải thích rằng: Vua biết Tường có ý gian nên giả vờ mê man bất tỉnh để nghe câu chuyện trao đổi giữa hai người... (27)

 

Người viết xin trích dẫn sau đây nguyên văn bằng tiếng Pháp của LM Delvaux, đã được dịch ở trên, để độc giả dễ bề nhận thức sự sai biệt: “Le roi avait remarqué plusieurs fois que le Régent avait passé sa cigarette allumée à sa mère adoptive; mais il n'en fit aucune remarque. Une nuit que le Roi semblait assoupi, il put suivre une conversation entre eux. Après avoir laissé Tường parler quelque temps, il s'écria tout à coup: "Tao lành..." (28)

 

Ngoài ra, tác giả nói “Theo tài liệu của Delux”, mà trong lúc LM Delvaux nói chuyện xảy ra là do người ta đồn (les mauvaises langues...) như đã dẫn ở trên, thì tác giả lại nói chuyện vị Linh mục kể như là chuyện thật. Còn về tiểu sử của bà Học Phi thì tác giả dựa “Theo Tôn Thất Hứa [trong tuyển tập nhớ Huế] nàng có tên là Yến... ở làng Vân Trình, huyện Phong huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên...", một chuyện mà tác giả Hứa có lẽ đã phỏng theo học giả Thái Văn Kiểm trong bài “Nước loạn canh tàn...” đã kể, và chính tác giả Hứa, trong bài khảo cứu tương đối khá vô tư về Nguyễn Văn Tường đó, đã nghi ngờ mức độ khả tín của nó. (29) Rồi tác giả Thuyền ai đậu bến Vân Lâu lại nói thêm "Theo Trần Gia Phụng [Những cuộc đảo chính cung đình, tr. 316] Bà Học Phi tên là Nguyễn Thị Hương, người tỉnh Vĩnh Long, Nam Kỳ." (tr. 278). Tác giả cũng không buồn cho độc giả biết lập trường của mình là tin nào đúng, tin nào sai, hoặc cả hai đều đúng, hay đều sai. Dù sao, tưởng cũng nên tìm xem thử bà Học Phi là ai. 

 

6. Bà Học Phi là ai?

 

Tên tuổi, tông tích các bà vợ vua quả có khó biết, vì một trong những thể lệ viết sử thường thấy dưới Triều Nguyễn là “Truyện các hậu phi chỉ chép tên thụy và họ, vì tên thực của các bà không để lọt ra khỏi cửa. Đó là theo thể lệ chép chuyện trong Minh sử." (30) Nguyên tắc đó không thấy được áp dụng chặt chẽ trong cách viết sử của Thế phả của nhà Nguyễn, hay trong Đại Nam thực lục, và cũng không thấy ghi rõ trong phàm lệ ở đây, nên người ta cũng có thể biết đôi chút về tông tích của bà.


a. Quê bà ở Bến Vân Trình hay Vĩnh Long?

 

Theo Đại Nam thực lục, bà Học Phi tên là Nguyễn Văn Thị Chuyên, quê quán ở Vĩnh Long. Năm Tự Đức thứ 23 (1870), bà đã được tấn phong từ Lượng Tần lên hàm Khiêm Phi (31) và đến năm Tự Đức thứ 27 (1874) được tấn phong từ Khiêm Phi lên hàm Học Phi (32). Năm 1870, Công tử Ưng Đăng [vua Kiến Phúc sau này], con trai thứ hai của vợ thứ Kiên quốc công, mới 2 tuổi, được vua Tự Đức chọn làm con nuôi, sung làm Hoàng thiếu tử trong cung, và giao cho bà Học Phi, lúc đó là Khiêm Phi, chuyên lo việc nuôi dưỡng. (33) Sau khi lên ngôi, vua Kiến Phúc: “Ra ơn ban tiền cho người ngoại thích là Nguyễn Văn Lữ và thôn An Đức có thứ bậc. [Nguyên quán của Học Phi ở thôn An Đức tỉnh Vĩnh Long. Nay Văn Đức [Lữ?] là cháu đích tôn phụng sự từ đường, ngụ ở xã Dương Xuân, phủ Thừa Thiên, cho Nguyễn Văn Lữ 200 chuỗi, thôn An Đức 100, sau đó hỏi người thôn ấy hiện không có ai ở kinh đô, tiền thưởng bèn để lại đợi.]” (34)

 

Theo gia phả họ Nguyễn Phúc thì bà tên là Nguyễn Thị Hương, quê ở Vĩnh Long, nhưng lai lịch không rõ. (35) Có thể Nguyễn Thị Hương là cái tên chữ chính thức của bà, vì sau khi vua Kiến Phúc lên ngôi, những "chữ tôn húy cần kính tránh” là Hạo, Đăng, Hỗ [tên vua] và Hương, chắc hẳn là tên của bà Học Phi, trở thành Hoàng Thái phi. (36) Còn quê bà ở Vĩnh Long là chắc chắn, chứ không phải ở làng Vân Trình, Thừa Thiên, như các tác giả trên đã nói. Tên họ thời đó khá phức tạp, không những vì bà là vợ vua, mà tên tuổi thật “không được ra khỏi phòng khuê" như đã nói trên, mà còn thường có thể thay đổi để tránh những chữ húy kỵ. Người viết không tìm được tài liệu nào cho biết tông tích rõ ràng hơn của bà, chỉ xin tạm phỏng đoán, dựa theo họ là “Nguyễn Văn” và quê ở Vĩnh Long, rằng bà là em hay chị của Phò mã Đô úy Nguyễn Văn Ninh, chồng của Công chúa Tĩnh Hảo, sau được sắc phong là Diên Phúc Công chúa, con của Đức Bà Từ Dụ và chị cùng mẹ của vua Tự Đức. Phò mã Ninh, người huyện Bảo Hựu, Vĩnh Long, là con của Thái Bảo Chưởng Phủ Sự Hoằng Trung hầu Nguyễn Văn Trọng. (37) Huyện Bảo Hựu lại nằm trong phủ Hoằng Đạo và cùng đặt lỵ sở ở thôn An Đức (38), nguyên quán của bà Học Phi như đã dẫn trên. Thái bảo Nguyễn Văn Trọng là một đại công thần của nhà Nguyễn, từ triều Gia Long đã lập được nhiều công trạng lớn lao trong việc bình định miền Nam và Cao Miên, và cũng là người “thôn An Đức, tỉnh Vĩnh Long", đúng y như quê của bà Học Phi đã nói trong phần dẫn trên. Vào lúc tuổi già, Thái bảo Trọng được vua Thiệu Trị, “nghĩ đến một người bề tôi kỳ cựu làm việc bên ngoài mỏi mệt đã lâu đặc cách triệu về kinh, cất lên bậc cao cho làm việc tại triều.” Ông được cử chực hầu đại lễ Ninh Lăng, và sung chức ngự tiền đại thần, hộ vệ đường xa giá khi vua tuần du ra Bắc. Mùa hè năm 1842, khi xa giá trở về, vua Thiệu Trị “chảy nước mắt... thương xót kể không sao xiết" khi ông bị bệnh và mất tại Thanh Hóa (39). Con trai của Thái bảo Trọng, quê ở Vĩnh Long, lấy trưởng nữ của vua Thiệu Trị và bà Từ Dũ, quê ở Tân Hòa, Gia Định, thì con gái của ông cũng rất có thể làm dâu ngài, và lấy vua Tự Đức, rồi thành bà Học Phi. Dù sao, theo sử liệu dẫn trên, trong họ của bà có người cháu đích tôn là Nguyễn Văn Lữ, ngụ ở Dương Xuân, thì cũng có thể bà đã ở đây, tức ở Thừa Thiên, với tư cách là con cháu của Đại thần Nguyễn Văn Trọng, hay chị em của Phò mã Nguyễn Văn Ninh. Dương Xuân ở huyện Hương Trà là một cái làng khá tiếng tăm ở đất Thần Kinh, vì đó là nơi tọa lạc của sở thợ xây lăng Tự Đức, [nơi xuất phát giặc Chày Vôi], của lăng Tự Đức và cung điện làm chỗ ở của vua và các bà vợ vua, hay Khiêm Cung (40). Đó cũng là một nơi long mạch của nhà Nguyễn, và chính là chỗ mà ông Rheinart, vị sứ Pháp đầu tiên ở Huế, đến dẫy đất đòi xây tòa sứ gần đó, làm cho Thương bạc đại thần Nguyễn Văn Tường và một số quan lại bị vua Tự Đức trừng phạt. (41) Chính bà Học Phi và Hoàng tử Dưỡng Thiện [Kiến Phúc] đã ở cư tang vua Tự Đức nơi đây khi vua Kiến Phúc được triều thần đến thỉnh lên ngôi. (42)

 

Làng Dương Xuân cách xa làng Vân Trình độ mười cây số. Làng Vân Trình ở gần phía Quảng Trị, và quả thật vua Tự Đức có du hành nơi đây. Chính sử đã kể rằng vào mùa xuân năm Nhâm Thân, Tự Đức thứ 25 (1872): "Vua ngự ra chơi xã Kim Đôi, Vân Trình [thuộc phủ Thừa Thiên] thấy dòng sông thẳng suốt đến sông Vĩnh Định tỉnh Quảng Trị, trong đó có chỗ bồi nông, thuyền bè đi lại không tiện, ruộng ở 2 bên sông lại khô, sai quan ở phủ và đạo ấy đào khơi ra.” (43) Câu phong dao “Trời xui có trận mưa giông, khiến con chim én vào trong đền vàng" của “Cụ Phó bảng Cư" , qua lời học giả họ Thái, nghe cũng khá bùi tai và hấp dẫn. Vậy nên kiên nhẫn chấp nhận đi theo các tác giả cho đến cùng, là có thể vì một lý do nào đó, ví dụ: Cô Yến, tuy gốc ở Vĩnh Long, nhưng thực ra cư ngụ ở Thừa Thiên, và từ Dương Xuân đi ra Vân Trình để thăm bà con, nên gặp vua Tự Đức ở đó; hoặc từ thôn An Đức cô đi thuyền lên tỉnh lỵ Vĩnh Long, rồi thử hãy tưởng tượng rằng bằng những phương tiện di chuyển thần tốc nào đó, cô lên Sài Gòn, rồi ra Huế, về Dương Xuân rồi đi Vân Trình, núp mưa, và gặp vua Tự Đức, vì trời xui như thế. Xin hãy tạm chấp nhận như vậy, để cho cô Yến có thể có mặt ở Vân Trình, như hai sử gia đã nói, và xét đến việc cô Yến biến thành hà Học Phi như thế nào. 

 

b. Cô Yến có thể nào trở thành bà Học Phi không?


Sử gia họ Nguyễn đã soi sáng độc giả về điểm này. Quả thật, mối tình giữa một ông vua già và một cô bé ở bến Vân Trình, do “Cụ Phó Bảng Cư" kể cho học giả Thái Văn Kiểm nghe, đã được sử gia này bồi bổ thêm một số chi tiết có vẻ khá chính xác, như “Tự Đức đã gặp Bà khi ông ngoài 50 tuổi, mối tình lãng mạn giữa một ông vua già và cô gái quê mới 15, 16 tuổi.” (44) Đó là một dữ kiện quý giá cho phép tính xem, theo các tuổi này thì hai người gặp nhau, và Cô Yến trở thành bà Học Phi, vào lúc nào. Vua Tự Đức sinh ngày 22-9-1829 và mất ngày 19-7-1883 lúc gần 54 tuổi Tây. (45) Lúc vua ngoài 50 tuổi, cho đi ít nhứt là 51 tuổi, tức là vào năm 1880 (1883 trừ 3), thì vua gặp Cô Yến, 16 tuổi ở bến Vân Trình. Như vậy tức là Cô Yến phải sinh năm 1864 (1880 trừ đi 16). Đến năm 1870, lúc vua Tự Đức giao cho bà Học Phi nuôi Công tử Ưng Đăng sau trở thành vua Kiến Phúc, (46) Cô Yến mới được 6 tuổi, và trở thành bà Học Phi, theo sử gia họ Nguyễn! Có lẽ vì vậy mà lúc học giả họ Thái nói khi về cung, vua phong cho bà làm “tài nhân” rồi về sau “tam giai phi”, thì sử gia họ Nguyễn lại sửa lại là vua “ra lệnh đưa nàng về cung và từ đó nàng đã trở thành Đệ Tam Giai Phi, được vua sủng ái” (47) Vua, hay tác giả Nguyễn Lý Tưởng, phong liền như vậy mà bà vẫn không lớn cho kịp để làm mẹ nuôi vua Kiến Phúc năm 1870! 

 

Học giả họ Thái có thể trách cứ sử gia họ Nguyễn về sự thêu dệt thêm thắt tuổi tác của cặp tình nhân vương giả, làm sai lạc câu chuyện đứng đắn của “Cụ Phó Bảng Cư" của mình. Vậy nên bỏ vấn đề già trẻ chỉ làm thêm rắc rối khó khăn, thử giản dị hóa bằng cách xét xem vua Tự Đức gặp bà Học Phi tương lai vào thời điểm nào. Như trên đã nói, “Vua ngự ra chơi xã Kim Đôi, Vân Trình" vào mùa xuân năm Tự Đức thứ 25 (1872). Duyệt bộ chính sử chỉ thấy nói vua đi Vân Trình vào lúc đó mà thôi, và nếu có đến nơi này vào một dịp khác nữa thì Quốc sử quán bắt buộc phải ghi lại, vì một trong những quy tắc viết sử mà các sử quan bó buộc phải tuân theo, và ghi rõ trong "Phàm lệ về Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ" [thời Tự Đức] là: “Khi phụng xa giá đi chơi xem duyệt quân thủy và phụng xa giá thái hậu đi nghỉ mát, thì phải chép đủ. Còn bất thần tuần ngự chỗ nào, nhân có việc mới chép thôi." (48) Áp dụng thể lệ viết sử này, trường hợp nào vua có đi chơi Vân Trình mà có gặp Cô Yến đều phải được sử ghi lại: Đi có trù liệu, chương trình thì phải chép đầy đủ, đi bất thần tùy hứng mà “nhân có việc", tức gặp người mà về sau trở thành bà vợ thứ ba của vua là một việc khá quan trọng, cũng cần phải chép lại. Vậy, theo “Cụ Phó bảng Cư" thì vua Tự Đức đã phải gặp Cô Yến vào năm 1872. Tuy nhiên, 2 năm trước đó, năm 1870, vua đã ủy thác cho bà Học Phi nuôi Công tử Ưng Đăng tức vua Kiến Phúc sau này rồi, chưa kể việc bà đã được thăng cấp từ Lượng Tần lên Khiêm Phi cũng vào năm đó rồi. Tóm lại, dù cho chuyện Cô Yến có thật đi nữa, cũng không có cách nào Cô trở thành bà Học Phi được cả!


c. Bà Học Phi và Silvestre, quan thầy của Nguyễn Hữu Độ


Đi xa hơn chút nữa, chính bà Học Phi cũng đã bị người Pháp và phe Việt theo Pháp không ưa và cố ý bôi nhọ, vì bà là mẹ nuôi vua Kiến Phúc, một ông vua trẻ, rất có tư cách, và chống Pháp. 

 

i. Bà Học Phi và vua Hàm Nghi

 

Hơn nữa, bà đã là người, với danh nghĩa là hoàng mẫu, triệu tập tôn nhân và triều thần để thông báo di chúc của vua Kiến Phúc truyền ngôi lại cho vua Hàm Nghi, cũng là một ông vua trẻ chống Pháp, như lịch sử đã chứng minh. (49) Vua Hàm Nghi, tên là Ưng Lịch, là em ruột khác mẹ của vua Kiến Phúc, nhưng không phải là con nuôi của bà Hoàng Thái phi và vua Tự Đức, như người Pháp thường nói. Cả ba vua, Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh, đều là con đẻ của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai, em ruột vua Tự Đức, và con trai thứ 26 của vua Thiệu Trị. Chỉ có vua Kiến Phúc [Ưng Đăng, hay Hỗ, Hạo, con thứ ba] và vua Đồng Khánh [Ưng Thị, hay Đàng, Kỹ, Biện, con trai trưởng] là được vua Tự Đức nuôi làm dưỡng tử, vua Kiến Phúc được giao cho bà Học Phi, vợ thứ ba, và vua Đồng Khánh, cho bà Thiện Phi Nguyễn Thị Cẩm, vợ thứ nhì, nuôi dưỡng. Còn Tự quân Dục Đức [Ưng Ái, hay Chân], người con nuôi mà vua Tự Đức đã truyền ngôi cho và bị truất phế, là con thứ hai của một người em ruột khác của vua Tự Đức là Thụy [Thoại] Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y, con trai thứ 4 của vua Thiệu Trị. Ngài Dục Đức được vua Tự Đức nuôi làm dưỡng tử sau vua Đồng Khánh tuy lớn tuổi hơn, và giao cho vợ chánh là Trung Phi Vũ Thị Duyên, sau trở thành Lệ Thiên Anh Hoàng hậu, làm mẹ nuôi. (50) Một lý do tại sao vua Kiến Phúc không truyền ngôi cho ngài Chánh Mông [Đồng Khánh], anh trưởng của mình là vì trong di chúc vua Tự Đức đã loại ông này ra, không cho kế vị, bằng câu nói rõ rằng: “Ưng Kỹ người yếu hay ốm, có tâm tật, học chưa thông mà kiêu ngạo, hay bới việc riêng của người cho lạm thẳng, đều không phải là tư chất thuần lương theo lời phải, sợ bọn ngươi khó lấy lời can được." (51) Ô. Silvestre không muốn biết những lý do như loại này mà lại thêu dệt câu chuyện theo một đường hướng khác có lợi cho Pháp hơn, về vua Đồng Khánh, mà họ muốn dựng lên để làm bù nhìn. Thật vậy, trong một văn thư gởi cho Tổng Trú sứ Lemaire ở Huế trình bày kế hoạch đưa vua Đồng Khánh và các ông Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình lên thay vua Hàm Nghi và hai ông Tường, Thuyết, Ô. Silvestre viết rằng: 

 

Kỳ Anh và Gia Hưng đã có đề nghị với Hoàng Thái hậu [mẹ của Tự Đức] để đưa ông ta [Đồng Khánh] lên ngôi khi Kiến Phúc mất; Bà này, mà ảnh hưởng đã lu mờ nhiều, nên không dám can thiệp. Hoàng Thái phi, vợ thứ ba của Tự Đức, đã thành công trong việc loại ông ta để đưa con nuôi của mình là Hàm Nghi lên. Tường và Thuyết lại càng tán thành sự chống đối lại hoàng tử Chánh Mông vì sự trưởng thành của ông này sẽ làm cho hội đồng phụ chánh không còn cần thiết nữa và sự thống trị của họ sẽ phải chấm dứt. (52)

 

Tiếp theo đoạn dẫn trên, Ô. Silvestre để một chú thích nói rằng thiên hạ cho bà Học Phi là tình nhân của Ô. Nguyễn Văn Tường. Rồi ông viết lại những lời này trong các bài hồi ký đóng thành sách, mà LM Delvaux có lặp lại như sau: 

Hoàng-Thái phi, vợ thứ 3 của Tự-Đức và mẹ nuôi của Kiến Phúc và Hàm Nghi, đã đóng góp lớn vào việc ngăn chặn, đến cả hai lần, sự lên ngôi của Mệ Tríu [Vua Đồng Khánh]... Người ta quả quyết rằng từ khi Tự Đức mất có sự liên lạc bất chính giữa bà và Phụ chánh Tường, và Nguyễn Hữu Độ đã mạnh mẽ tìm cách thiết lập bằng chứng, nhờ ở người chỉ huy giám quan bị Tường giam giữ.  (53)

 

Như đã nói trên, Ô. Silvestre, người viết những dòng này, là Giám đốc Chính trị và Dân sự vụ của phía Pháp thời đó, và là một thủ lãnh của "Nhóm Hà Nội" đã kể trên, một nhóm trong đó có Đức cha Puginier và Tướng Brière de L'Isle, chủ trương tiêu diệt Triều đình Huế, nhứt là hai Phụ chánh Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi, và thay họ bằng những con bài của Pháp là vua Đồng Khánh và các ông Nguyễn Hữu Độ và Phan Đình Bình. (54) Theo LM Delvaux thì Ô. Silvestre là một sử gia Pháp đã cung cấp nhiều tư liệu nhứt về Ô. Nguyễn Văn Tường, (55) và lẽ tất nhiên là người bôi nhọ ông này nhiều nhất, vì mục đích chính trị. 

 

ii. Học Phi bị kẹt trong kế hoạch diệt Triều đình Hàm Nghi của Silvestre

 

Trước khi ghi chú câu chuyện này vào các bài viết trong Niên giám của Trường Khoa học Chính trị, Paris vào cuối thập niên 1890, ông đã lồng nó, như đã nói, vào một bức thư số 404 đề ngày 19-11-1884 gởi Tổng Trú sứ Lemaire ở Huế, trình bày kế hoạch loại trừ vua Hàm Nghi cùng hai ông Tường và Thuyết, và thay họ bằng Hoàng tử Chánh Mông [Đồng Khánh], cùng các ông Nguyễn Hữu Độ, và Phan Đình Bình. Văn thư này là một tài liệu lịch sử quan trọng chứng minh cho những cố gắng kiên cường và thâm độc của giới thực dân cực đoan trong việc xâm lăng và đô hộ Việt Nam. (56) Tài liệu này được thượng cấp của Ô, Silvestre lúc đó là Tướng Brière de L'Isle, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ, tán đồng tuyệt đối và gởi về bộ Chiến tranh rồi được bộ này sao chuyển qua nhiều cơ quan liên hệ khác, như bộ Thuộc địa, Ngoại giao, và phủ Thủ tướng, hầu vận động với chính phủ Pháp cho phép thi hành kế hoạch đó. (57) Trong bức thư này, Ô. Silvestre kể lể rất dông dài về các thành quả và âm mưu chống Pháp của Phụ chánh Nguyễn Văn Tường, bao gồm cả những chuyện khá hoang đường, như Ô. Tường muốn dùng đất Cam Lộ, Quảng Trị làm nơi xuất phát, như người hùng Nguyễn Huệ dùng đất Tây Sơn ở Bình Định, nhưng vì thời thế không cho phép, nên muốn trở thành một Hồ Quí Ly, diệt hết con cháu nhà Nguyễn đến khi không còn ai, thì lên làm vua, rồi nhường ngôi cho con, và làm Thái Thượng hoàng. Sau khi nói Hoàng Thái phi đã gạt ra Hoàng tử Chánh Mông để đưa “con nuôi mình” là Ưng Lịch lên ngôi thành vua Hàm Nghi, Ô. Silvestre viết:


Người ta quả quyết rằng Hoàng Thái phi đã trở thành tình nhân của Tường từ khi Tự-đức mất; người ta sẽ có thể thu thập bằng chứng về trọng tội đó ở Huế, và ông Tổng đốc Hà-nội, Nguyễn Hữu Độ, tuyên bố dư sức đưa vụ này ra ánh sáng nếu người ta muốn giao phó việc điều tra cho ông ta. Ông Giám Đất [sic], chỉ huy các thái giám trong Cung, hiện bị giam giữ, sẽ là một nhân chứng quí báu và sẽ khai ra, một khi mà sự trả thù của Tường không còn đáng sợ nữa.” [On assure que Hoàng thái phi est devenue la maitresse de Tường depuis la mort de Tự-đức; on pourrait acquérir la preuve de ce crime à Huế, et le Tổng-đốc de Hà-nội, Nguyễn Hữu Độ, se fait fort de le démontrer si on veut le charger de l'enquête. Le Giam Đất, chef des ennuques du palais, actuellement en prison, serait un témoin précieux et qui parlerait certainement, le jour où la vengeance de Tường ne serait plus à craindre.] (58)


Người “Thái giám bị Tường giam giữ" mà, theo Silvestre, Ô. Độ muốn dùng để điều tra vụ “thông gian và đầu độc vua" này là ai? Vào lúc vua Hiệp Hòa bị truất phế, có một câu chuyện, hiện nay còn thường được nhắc nhở đây đó trong sử sách, là vua có sai một Thái giám đưa bản tấu của Ô. Hồng Sâm xin giết Ô. Nguyễn Văn Tường cho Đệ nhứt Phụ chánh Trần Tiễn Thành để thi hành; Ô. Tường bắt được, và giam giữ rồi toan tính xử tử, Thái giám này. Học giả Đào Duy Anh đã ghi lại hai nguồn tin khác nhau về câu chuyện này, đều là tin dựa vào nhân chứng vô danh thời đó, nghĩa là một loại tin đồn, không hơn không kém. Theo nguồn tin thứ nhất, dựa vào “một vài người đương thời" [d'après certains contemporains] thì vua Hiệp Hòa, đọc xong tờ tấu xin giết Ô. Tường trong đó nói là đã có ý kiến của Phụ chánh Thành, phê “chuyển cho Trần Tiễn Thành" và sai Thái giám Phạm Tác giao cho Ô. Hồng Phì. Nhưng Ô. Phạm Tác đưa lộn cho “Thượng Thư" Phạm Như Xương. Vua nhận được tờ tấu trả lại từ ông này, nổi giận, phạt đánh Ô. Phạm Tác 30 roi mây. Trừng phạt này khiến ông Tác làm phản, báo cho Ô. Tường biết. Theo nguồn tin thứ hai, dựa vào "một nhân chứng khác” [Daprès un autre témoignage], thì sau khi duyệt phê, vua Hiệp Hòa sai Thái giám Trần Đạt mang bản sớ đến cho chính Phụ chánh Thành. Khi Ô. Đạt mang sớ ra cửa “Nhật-Tinh" thì gặp Ô. Tường đi vào. Thấy cử chỉ bối rối của Thái giám Đạt, Phụ chánh Tường nghi ngờ và bắt ép ông Đạt đưa bản tráp đựng sớ có khằn và tự tiện mở ra xem bản án tử hình của mình. Rồi Ô. Tường lập tức đến gặp Ô. Thuyết tiến hành ngay việc phế lập vua Hiệp Hòa (59). Như vậy, người Thái giám thù nghịch với Ô. Tường, mà tác giả Silvestre gọi là “Giám Đất”, rất có thể là Trần Đạt, mà sử sách thuộc địa về sau bênh vực, để bôi nhọ Ô. Tường, vì chính Ô. Silvestre, trong phần phụ lục kèm theo văn kiện đã nói, có lặp lại tin này một lần nữa và ghi tên người chỉ huy giám quan là “Đạt" (60). Ông Đào Duy Anh, một học giả khả kính, nhưng không đủ tài liệu và bị áp lực của thời thế, sau khi tường thuật các tin trên, đã bình luận: 

Ta hãy nói để giải oan cho Thái giám Trần Đạt rằng ông ta không thể đã báo tin cho Nguyễn Văn Tường về sự hiện hữu của bức thư, nếu quả bức thư này có thật, bởi vì viên thái giám đó, mà lòng ngay chính ai cũng đều biết, được hai ông Phụ chánh coi như là kẻ thù. Sau khi vua Kiến Phúc trị vì ít lâu, các ông xử tử viên thái giám, nhưng vị vua con phản đối với tất cả năng lực mà tuổi trẻ của ngài cho phép. Vua cũng chống đối việc đày viên thái giám đi Lao Bảo, và dàn xếp cho ông này được đi đày ở thành Quảng Trị mà thôi. (61)


So với các tin đồn nói trên, sử chính thức của nhà Nguyễn nói khác và ngược hẳn. Theo Thực lục, Thái giám Trần Đạt là người đã được vua Hiệp Hòa sai mang chiếu thoái vị của mình cho 2 Phụ chánh Tường và Thuyết. (62) Chuyện Thái giám Đạt đưa thư bảo giết Ô. Tường chi là tin bịa đặt, không hề được chính sử xác nhận. Vua Hiệp Hòa và các Công tử Hồng Sâm, Hồng Phì đi thẳng với Pháp để toan tính nhờ họ loại trừ 2 ông Tường, Thuyết. Phụ chánh Thành không có liên can gì đến việc này, như được trình bày ở nơi khác. Hơn nữa, thay vì xử tử Thái giám Trần Đạt, Ô. Nguyễn Văn Tường là ân nhân cứu Ô. Đạt bằng cách xin vua Kiến Phúc giảm tội cho ông này, sau khi ông phạm tội lấy trộm đồ đoàn trong nội đình và bị xử chém. Thật vậy, theo chính sử thì vào cuối hè năm 1884: 

Thái giám Trần Đạt có tội xử chém bêu đầu, ân giảm làm trảm giam hậu. Trước đây Đạt ngầm lấy đồ dùng ở trong nội đình [nồi họp các thứ] thái hóa các hạng [dầu lụa, vân vân] đem về nhà dùng riêng. Bộ Hình đã chiếu theo lệ lấy cắp trộm tài vật trọng khoản trong cung điện.

[..]

Xử tội chém ngay, bêu đầu để bảo quần chúng. Phụ chánh phúc duyệt cho rằng Đạt là đầy tớ cũ của triều vua trước, chầu chực nhiều năm, xin gia ơn đổi làm giam hậu... tâu dâng, [vua] chuẩn cho đều như phúc duyệt, tống giam Đạt xuống nhà ngục phủ Thừa Thiên giam giữ, rồi phát giao cho nha Sơn phòng Quảng Trị, để hiệu lực sai phái. (63)

 

iii. Học Phi chỉ là nạn nhân của thời cuộc


Trong bài khảo luận, LM Delvaux nhắc lại chuyện, nói trong sách của Ô. Silvestre, là Ô. Nguyễn Hữu Độ cố tình thu thập bằng chứng về việc Ô. Tường tư thông với bà Học Phi qua viên Thái giám bị Phụ chánh Tường bỏ tù, và không nói kết quả cuộc điều tra ra sao mà chấm dứt chỗ đó, chắc là cốt để gây cho độc giả cái cảm tưởng là chuyện có thật nên Ô. Độ mới điều tra. Có thể là Ô. Độ, khi “mớm" chuyện này cho Ô. Silvestre, đã khoác lác như vậy, để các vị quan thầy của mình rao ra với nhau trong chính giới Pháp, nhưng chính Ô. Độ không hề dám tự mình viết ra như vậy. Quả thật, nhiều tháng sau khi Ô. Silvestre viết chuyện này trong kế hoạch diệt Tường-Thuyết, lúc Ô. Nguyễn Văn Tường bị Tướng de Courcy giam lõng, nhưng còn chức vụ làm vì là “Chủ tịch” viện Cơ mật, Ô. Nguyễn Hữu Độ, trong thư gởi Tướng de Courcy xin đày Ô. Tường, vẫn còn phòng hậu, sợ ông này quật lại, hoặc sợ hơn nữa là bà Học Phi còn đó, tuy đã thất thế, nhưng biết đâu với thời thế xoay vần, và dù sao cũng còn một cách vững vàng là một bà vợ thứ ba đáng kính, của vua Tự Đức, với đầy đủ đức độ và uy tín. Như đã kể trên đây, Ô. Độ chỉ nói bóng gió về chuyện này thôi, rằng “... những tiếng [buông khe] không tốt, truyền bá ra ngoài, cho đến vua Kiến Phúc cũng phải tức giận mà chết.”. (64) Đến lúc ông lên làm đầu Triều, không thấy ông đặt vấn đề điều tra, điều nghiên gì về vấn đề này cả, như Ô. Silvestre đã tiên liệu, mà chỉ lo để trong chiếu lên ngôi của vua Đồng Khánh điều ban ân đầu tiên là khoan xá cho mọi người phạm tội dưới thời các vua có hai ông Phụ chánh Tường, Thuyết, để chính bản thân ông được khỏi tội lạm dụng của dân để làm sinh từ cho mình lúc làm quyền Tổng đốc Hà Ninh. (65)

 

Về mức độ khả tín của tin này cũng như mọi tin khác trình bày trong kế hoạch đảo chính Triều Hàm Nghi, của mình, chính Ô. Silvestre cũng công nhận là chả có gì là chắc chắn cả. Thật vậy, ông đã kết luận bức thư dài trên 20 trang cho Ô. Lemaire bằng những câu sau đây: "...Tôi tin rằng những tin tức tôi thu thập được xuất phát từ những nguồn gốc tốt; các cố vấn của tôi không nhiều, nhưng tôi tin là họ hoàn toàn đáng tin cậy; vì vậy, tôi dám xin ngài chấp nhận các thành tố của bản phúc trình này, dù cho các sai lầm về sự kiện hay lượng giá mà tôi có thể mắc phải có hệ trọng đến đâu đi nữa.”(66) Nguồn gốc xuất xứ các tin tức làm căn bản cho phúc trình phần lớn là Đức cha Puginier, và Ô. Nguyễn Hữu Độ và bộ hạ. Cố vấn cũng không ai xa lạ hơn là hai người đó, tức hai thành viên khác của “Nhóm Hà Nội”, một nhóm mà, theo một số sử gia Pháp ngày nay, đã cố tình bôi nhọ và ám hại hai ông Tường, Thuyết bằng mọi cách, kể cả sự ngụy tạo văn kiện, như dùng một văn kiện trưng thu gạo có dấu ấn của Triều đình để báo cáo với Tổng Trú sứ Lemaire rằng đó là văn kiện của hai ông mật thông với quân Tàu như đã nói trên, có lẽ vì tin rằng người Pháp không ai biết đọc chữ nho. Ngoài ra, như đã nói trong chương trước, cũng chính Ô. Silvestre đã nói rằng Ô. Thuyết chửi các ông Lemaire và Tướng Brière, theo cách nói lái, là những kẻ “lôn tàp". Do đó, những tin tức bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo, vô căn cứ như chuyện kể trên tràn ngập sử sách, hoàn toàn biến đổi lịch sử Việt Nam, và sẽ được bàn thêm nhiều trong các dịp khác. 

 

d. Bà Học Phi và vua Đồng Khánh


Người Pháp chống đối bà Học Phi vì bà đã sắp đặt cho Công tử Ưng Lịch [vua Hàm Nghi lên ngôi và gạt Hoàng tử Chánh Mông ra ngoài. Vị Hoàng tử này một khi đã trở thành vua Đồng Khánh, tất nhiên là không ưa bà nên: “Chuẩn cho đình huy hiệu Hoàng thái phi, còn bổng lộc chiếu vị Thứ học phi chi cấp; tiết Diên-xuân và tên húy đều đình cả. Đình thần cho việc tấn tôn ấy là tự quyền thần, không phải là di mệnh của tiên triều." (67) Vào thời Đồng Khánh thì Ô. Nguyễn Hữu Độ hầu như nắm tất cả quyền hành dưới sự điều động của người Pháp. Cả hai người và các quan cai trị Pháp lúc đó đều thâm thù Ô. Nguyễn Văn Tường và tìm cách ám hại ông ta. Họ đã hợp thức hóa quyết định của Tướng de Courcy đày vị đại thần này đi Côn Đảo rồi Tahiti, chỉ với bộ đồ mặc trên người. Họ đã “tước hết quan tước và tịch thu gia sản" của vị Phụ chánh (68) nhưng theo lời Đại úy Gosselin thì sự tịch thu này, "được thi hành lúc ông bị bắt, đã gây ra trên toàn thể nước Nam một hậu quả tai hại, và tạo nên nhiều hận thù đối với chúng ta.” (69) Vì chính sử không đả động gì đến lệnh thu hồi này, mà về sau còn có một, hai quyết định tịch thu một số ruộng của Ô. Tường [có thể là lộc điền kèm theo tước bá, tước hầu và tước công] để thờ cúng vua Dục Đức và Ôn nghị Kiên vương (70) thì sự thi hành lệnh tịch biên có thể đã được tạm đình chỉ về thực tế, để trấn an dư luận đôi chút. Điểm đáng lưu ý, là Ô. Nguyễn Văn Tường bị họ buộc tội là "... từng đã chống cự nước ấy thực đã nhiều năm. Từ khi cùng với Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh, chỉn lại đồng suất quan quân nổi dậy công kích quan binh nước ấy.." (71) chứ không buộc tội Ô. Tường đã thông đồng với bà Học Phi để giết vua Kiến Phúc gì cả. Chuyện này có lẽ không "ăn khách" lắm thời đó, và chỉ được hệ thống tuyên truyền của chính quyền thuộc địa Pháp nhấn mạnh sau này hầu thực hiện một cuộc “ám sát tư cách" [character assassination] của nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường.

 

e. Sự trong trắng của bà Học Phi


Tóm lại, bà Học Phi đã hết lòng làm bổn phận của một người vợ và mẹ vua trong một hoàn cảnh đau thương của đất nước, trung kiên với triều đại và xã tắc, thủ tiết thờ chồng. Sự đóng góp quan trọng nhất của bà là, với tư cách là Hoàng mẫu và Hoàng Thái phi, triệu tập triều thần và thân công để công bố di chúc của vua Kiến Phúc lập em là Công tử Ưng Lịch [Hàm Nghi], thay vì Hoàng tử Chánh Mông [Đồng Khánh], lên kế vị. Ngài Chánh Mông là anh ruột cùng mẹ với vua quá cố, lúc đó 21 tuổi ta, đã được vua Tự Đức lập làm dưỡng tử và phong làm hoàng tử, nhưng thiếu tư cách, vì trong di chúc chính vua Tự Đức đã loại ra rồi, như đã nói. Công tử Ưng Lịch là em nuôi khác mẹ với vua Kiến Phúc, nhỏ tuổi hơn, mới 14 tuổi ta, và không phải là con nuôi của vua Tự Đức hay của bà Học Phi, như một số viên chức Pháp thường nói, nhưng là một thiếu niên có đủ tư cách để trở thành một vì vua chống ngoại xâm trong tương lai, như ngài đã chứng tỏ về sau. Nói khác đi, bà đã đứng về phe chống Pháp, và đã giúp lựa chọn một ông vua kế vị chống Pháp. Vì vậy bà đã bị người Pháp thuộc địa và phe theo Pháp mạt sát và bôi nhọ. Thay vì được tôn vinh thì, vì lý do chính trị, bà lại đã bị liên lụy, tai tiếng, xuyên tạc, hiểu lầm. Bà đã khóc từ biệt vua Hàm Nghi lần cuối ngày 9-7-1885 tại hành cung Quảng Trị, sống ẩn dật từ lúc ấy, và mất năm 1893. (72) Nói về bà, cuốn gia phả kể trên của nhà Nguyễn chỉ ghi vỏn vẹn là bà tên Nguyễn Thị Hương, người Vĩnh Long, lai lịch không rõ, và được vua Tự Đức sai nuôi Ưng Đăng lúc 2 tuổi. (73) Ngoài ra, cuốn Thế phả, trang 384 cũng có ghi chuyện nghi án bà “có tư tình với Nguyễn Văn Tường". Thiết tưởng sử gia và Hoàng tộc có bổn phận nghiên cứu nhiều hơn về bà, đề cao những đóng góp của bà vào sự tồn vong của nhà Nguyễn cũng như công cuộc chống Pháp, và vinh danh bà, thay vì khinh miệt bà vì một chuyện tiếu lâm, không đâu vào đâu, do các quan chức Pháp thuộc địa và tay sai bịa ra, rồi đặt thành nghi vấn muôn đời của lịch sử, để ám hại những kẻ không chịu khuất phục trước ý đồ xâm lược của họ.

 

Sau hết, chuyện một đại thần tư thông với mẹ vua, bị vua bắt được tại trận và hăm giết, nên hai người cùng nhau đầu độc vua là một tội quá trọng đại để Triều đình có thể bỏ qua mà không truy tố được. Nếu quả câu chuyện có xảy ra thật, thì tại sao các kẻ thù không đội trời chung với Ô. Tường như Tướng de Courcy và các ông Silvestre, Nguyễn Hữu Độ và Phan Đình Bình không nắm ngay cơ hội để trả thù cho điều tra xử tội Ô. Nguyễn Văn Tường, một việc có thể làm dễ dàng, vì tội phạm mới xảy ra trước khi các ông này lên cầm quyền chỉ trên dưới một năm? Chung quy, sử học Việt Nam đã bỏ bao nhiêu giấy mực để ghi lại một chuyện tiếu lâm như chuyện này, và biết bao chuyện tiếu lâm tương tự khác.

 

Người viết cũng đã phải đi theo cái chiều hướng tiêu cực đó, để bạch hóa hồ sơ của một nhân vật lịch sử, và đồng thời để cho thấy lịch sử Việt Nam đã bị hệ thống tuyên truyền của giới thực dân Pháp chi phối như thế nào từ xưa mãi cho đến ngày nay. Hệ thống tuyên truyền đó đã biến đổi hẳn lịch sử Việt Nam bằng những chuyện bịa đặt, xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo, gây ra một ấn tượng hết sức rất xấu xa về các vua quan Việt Nam, cũng như về xã hội Việt Nam, nói chung. Việc viết lại một bộ sử quốc gia trung thực về giai đoạn tiếp xúc với người Pháp là một công tác hết sức nặng nề, và hết sức quan trọng cho tiền đồ của quốc gia và dân tộc, đang chờ đợi sử gia Việt Nam. Thiên khảo luận này mong đóng góp một viên đá nhỏ vào công tác to lớn đó.


...(hết)...

👉 Mời xem ngay tại: https://nguyenvantuong.khaitam.com

 

[Chú thích]

[1] Thái Văn Kiểm, "Nước loạn canh tàn khóc bể dâu” Nhớ Huế [số 819969192 Dẫn tắt là: TVK, “Nước loạn”, Nhớ Huế [1996]).
[2] Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận Từ Thái cổ đến Hiện đại (Antony, Pháp: Hội Văn hóa Hải ngoại, 2000). (Dẫn tắt là: HCT).
[3] Nguyễn Lý Tưởng, Thuyền ai đợi Bến Vân Lâu. [Hoa Kỳ,8-2001], 277. (Dẫn tắt là: NLT).
[4] T. 279. 
[5] Thế phả, 307.
[6] ĐNTL, XXXV, 230-231.
[7] ĐNTL, XXXIV, 259.
[8] HÐSL, X, 63.
[9] ĐNTL, XXXV, 221.
[10] ĐNTL, XXIV, 17.
[11] HÐSL, XIII, 13-14; X, 11-56.
[12] ĐNTL, XXVI, 54-55.
[13] ĐNTL, XXIV, 257-259.
[14] ĐNTL, XXXI, 154.
[15] ĐNTL, XXXIII, 179-180.
[16] HÐSL, XI, 414.
[17] HÐSL, I, 204.
[18] HÐSL, XV, 427-428.
[19] HÐSL, XV, 427.
[20] HÐSL, XV, 428.
[21] Triệu Vân, “Bổ túc và đính chính sử liệu về ông Nguyễn Văn Tường”, Người Việt, 8-12-1995, 4-5.
[22] HÐSL,XI, 380.
[23] TTK Việt sử, 195; Xem thêm: Châu bản II, xvi, xvii.
[24] ĐNTL, XXXII, 79.
[25] NLT, 279.
[26] Hạnh thục ca, 49-50, NQT chua thêm theo Trần Trọng Kim. 
[27] NLT, 278.
[28] Delvaux, "Quelques précisions", BAVH [1941], 251.
[29] Nhớ Huế [số 619941995 ], 134-135, 143, 126-143.
[30] Đại Nam liệt truyện hay Đại Nam chính biên liệt truyện, Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phiên dịch (Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997) Tập 1 (Dẫn tắt là: LTTB [1997), 11. Tập 1 trong bộ bốn tập này thật ra là cuốn Đại Nam liệt truyện tiền biên, xuất bản năm 1995, bắt đầu từ trang 19; LTTB[1995], trang 59, cũng theo như vậy: “Tên húy của phụ nữ không ra khỏi cửa phòng khuê".
[31] ĐNTL, XXXII, 9.
[32] ĐNTL, XXXIII, 40.
[33] ĐNTL, XXXII, 10; XXXVI, 18.
[34] ĐNTL, XXXVI, 32.
[35] Thế phả, 348 383.
[36] ĐNTL, XXXVI, 44-45.
[37] ĐNTL, XXVI, 24, 74.
[38] ĐNTL, [5], 67.
[39] ĐNTL, XXIV, 113; Thế phả, 359; LT, II, 298-303; ĐNTL, XXVIII, 411; HĐSL, I, 213, III, 135-136, 207.
[40] ĐNTL, XXXI, 27, 32, 48, 53, 107, 127.
[41] ĐNTL, XXXIII, 232.
[42] ĐNTL, XXXV, 257.
[43] ĐNTL, XXXII, 180.
[44] NLT, 277.
[45] Thế phả, 341.
[46] ĐNTL, XXXII, 8; XXXVI, 9.
[47] NLT, 278.
[48] ĐNTL, XXVII, 18.
[49] ĐNTL, XXXVI, 18, 151, 153. 
[50] Thế phả, 346-349, 350-352, 358-359, 371-372, 377, 383-384, 387-388.
[51] ĐNTL, XXXV, 200-201.
[52] Thư, số 404, 19-11-1884, Silvestre gởi Tổng Trú sứ Lemaire, kèm theo thư, 19-5-1885 của bộ Chiến tranh gởi bộ Ngoại giao Pháp. AMAE, Mém. et Doc., Asie, V. 46, fo. 232v, 233, NQT dịch. Kỳ Anh [Phong] Quận công Nguyễn Phúc Hồng Đình [Đỉnh] là em vua Tự Đức, Con trai thứ 23 của vua Thiệu Trị, Gia Hưng vương Hồng Hưu là em vua Tự Đức, con trai thứ 8 của vua Thiệu Trị [Thế phả, 353-354-357 ]. Gia Hưng vương là người đi với Ô. Rheinart để tranh ngôi với vua Hàm Nghi, chớ không có ủng hộ vua Đồng Khánh thay vua này, như được bàn nơi khác.
[53] Silvestre, XI, 743, dẫn do Delvaux, “Quelques précisions", BAVH [1941], 251, ct. NQT dịch.
[54] Devillers, 281-284, 294-295, 303-306; Fourniau, Vietnam, 368 et seq.
[55] Delvaux, "Quelques précisions”, BAVH [1941], 226-227, ct. 3.
[56] AMAE, Mém. & Doc., Asie, V. 46, fo. 228-238. Xem Phụ lục.
[57] Ibid., fo. 226-227.
[58] Thư số 404, 19-11-1884, Silvestre gởi Lemaire, AMAE, Mém. & Doc., Asie, V. 46, fo. 233, NQT dịch.
[59] ĐDA, "Trần Tiễn Thành", BAVH [1944], 148, ct. 1.
[60] Thư số 404 gởi Lemaire, Mém. & Doc., Asie, V. 46, fo. 235v.
[61] ĐDA,“Trần Tiến Thành”, BAVH [1944], 150, NQT dịch.
[62] ĐNTL, XXXV, 258.
[63] ĐNTL, XXXVI, 142-143.
[64] PTC, Hàm Nghi, 89.
[65] ĐNTL, XXXVI, 213-214; XXXVII, 30.
[66] Ibid., 234v.
[67] ĐNTL, XXXVII, 39.
[68] ĐNTL, XXXVII, 35.
[69] Gosselin, Empire d'Annam, 220; và theo chính LM Delvaux thì lệnh tịch thu này, vì vậy, đã bị thu hồi. Delvaux, “Mort de Nguyen Van Tuong", BAVH [1923], 429, ct. 2.
[70] ĐNTL, XXXVII, 62-63, 109.
[71] ĐNTL, XXXVI, 247.
[72] Gosselin, Empire d'Annam, 214.

[73] Thế phả, 348.