Khai Tâm| văn hóa- nghệ thuật| Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển - Số 3-2021

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển - Số 3-2021

Tác giả: Nhiều tác giả
Công ty phát hành: Khai Tâm
Số trang: 0
Hình thức bìa: Bìa mềm
Ngày xuất bản: 2021
Trọng lượng (gr):300
  • Tại Sách Khai Tâm: 50.000 đ

Giá trị & dịch vụ cộng thêm:

  •  Bookmark miễn phí
  • Giao hàng miễn phí cho đơn hàng từ 200.000 đ (nội thành HCM) và từ 500.000 đ (ngoại thành HCM/ Tỉnh) 
  • Với mỗi 90k trong đơn hàng, quý khách được tặng 1 
  • Bao đọc sách hay, đổi ngay nếu dở (chi tiết)
  •  Bao sách miễn phí nếu có yêu cầu


   Đôi nét tìm hiểu về Pháp Lam Huế

     Nhắc tới pháp lam Huế, giới nghiên cứu ngày nay đều thống nhất cho rằng đây là một di sản có giá trị đặc biệt không hề thua kém bất kì di sản nào mà triều Nguyễn (1802-1945) để lại cho Huế như lăng tẩm, đền đài, thành quách, miếu mạo, thơ văn, nhạc họa...

      Sử cũ chép rằng, mùa Đông năm Đinh Hợi (1827), vua Minh Mạng (1820 - 1841) lệnh cho Nội phủ lập nên một cơ quan mới đặt tên là Pháp lam tượng cục chuyên lo việc sản xuất đồ pháp lam. Cơ quan này gồm 15 nghệ nhân, do ông Vũ Văn Mai - một thợ vẽ nổi tiếng ở xưởng Nội tạo (cơ quan chuyên việc vẽ vời, trang trí trong cung Nguyễn) - đứng đầu.

       Ngoài xưởng chế tác pháp lam ở Huế, triều đình nhà Nguyễn còn mở thêm xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Ðồng Hới (Quảng Bình) để sản xuất pháp lam phục vụ cho nhu cầu xây dựng, trang trí nội ngoại thất các cung điện, lăng tẩm ở Huế, cũng như làm đồ sinh hoạt và tế tự trong cung. Như vậy, có thể nói năm 1827 là năm đánh dấu sự xuất hiện của nghệ thuật pháp lam Huế.

       Pháp lam hiểu một cách đơn giản là tên gọi loại sản phẩm mĩ thuật có cốt làm bằng đồng, bên ngoài được vẽ một hoặc nhiều lớp men màu rồi đem nung mà thành. Do cách thức chế tác đặc biệt nên pháp lam không chỉ đẹp về mặt hình thức mà còn có độ bền về mặt cơ, hóa, lý, tức có khả năng chống chịu cao trước sức va đập, hoặc sự ăn mòn của môi trường và khí hậu...

        Theo một số nhà nghiên cứu, kỹ thuật làm pháp lam thời Nguyễn được các nghệ nhân ở Huế tiếp thu trực tiếp từ vùng Quảng Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất sản xuất pháp lam. Nhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Ý, Nhật Bản... đều có pháp lam nhưng với những tên gọi khác nhau. Điển hình như người Pháp vùng Limoges và người Anh vùng Battersea ngay từ thế kỉ 15 đã có kỹ nghệ chế tác loại hình họa pháp lam khá giỏi.
 
      Về tên gọi “pháp lam”, đây quả là một đề tài thú vị và cũng tốn khá nhiều giấy mực. Trên thế giới, sản phẩm này được người Anh gọi là “painted enamels”, Pháp là “émail peint sur cuivre”, Nhật Bản là “shipouyaki”, Trung Quốc là “pháp lang”... và ở Việt Nam thì nó mang cái tên mới tên là “pháp lam”. 

       Nhiều ý kiến cho rằng, việc nhà Nguyễn tiếp thu kỹ thuật từ Trung Quốc nhưng thay đổi tên gọi “pháp lang” thành “pháp lam” là để tránh trùng âm với những chữ quốc húy của triều Nguyễn. Chẳng hạn như họa sĩ Phạm Đăng Trí cho rằng, có thể do thổ ngữ Huế phát âm không phân biệt được “lang” và “lan” nên đã đổi “lang” thành “lam” để tránh âm “Lan” trong tên của chúa Nguyễn Phúc Lan. Còn theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn ở Huế, việc thay đổi này có thể là để tránh tên gọi hoàng hậu Tống Thị Lan - vợ vua Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn. Một hướng giải thích khác cho rằng, sở dĩ đồ kim khí có tráng men được gọi chung là pháp lam vì “pháp” có nghĩa là luật lệ, khuôn phép, còn “lam” đơn giản là chỉ màu men lam. Như vậy, có thể hiểu pháp lam là nghệ thuật tráng men lên cốt kim loại theo những cách thức, luật lệ định sẵn.

       Mặc dù nguồn gốc tên gọi cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến lí giải khác nhau nhưng có một thực tế được nhiều người thừa nhận và khẳng định, đó là triều Nguyễn đã ứng dụng kĩ nghệ pháp lam vào cuộc sống sáng tạo hơn các nước. Nếu như người Trung Quốc, người Nhật Bản, cũng như người phương Tây... chỉ coi pháp lam như một thứ chất liệu để sản xuất ra các vật dụng sinh hoạt, thờ tự hay những món đồ lưu niệm, thì các nghệ nhân pháp lam thời nhà Nguyễn đã vận dụng pháp lam như một loại vật liệu kiến trúc trong công cuộc kiến thiết, xây dựng các cung điện, lăng tẩm ở Huế.

       Theo đó, các nghệ nhân Huế với kĩ thuật phối màu độc đáo mang đặc trưng theo lối cung đình Huế cùng với việc nắm bắt được tính chất độ bền, khả năng chống chịu của pháp lam trước điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt của miền Trung nên họ đã khéo léo sử dụng pháp lam để tạo thành các đồ án trang trí, gắn lên ngoại thất các công trình kiến trúc cung điện, đền đài, lăng tẩm.

       Nét đặc sắc và đặc biệt của việc ứng dụng pháp lam trong trang trí trên các công trình kiến trúc cung đình Huế đó là tùy vào tính chất, quy mô và tầm quan trọng của công trình mà người ta sẽ có những thể thức, lề lối trang trí khác nhau. Về cơ bản, hình thức thể hiện của các đồ án pháp lam Huế xoay quanh các chủ đề về rồng phượng, chim muông, hoa lá, phong cảnh, thơ văn, câu đối chữ Hán Nôm, và các loại họa tiết trang trí mang phong cách cổ điển và truyền thống...; màu sắc thì tươi vui, nhã nhặn với những gam màu truyền thống như tím, đỏ, xanh lam, vàng chanh, hồng phấn, xanh đậm... 

        Nhờ vậy mà trải qua gần hai thế kỉ, màu sắc và hình thái các chi tiết trang trí pháp lam trên các công trình kiến trúc cung đình ở Huế vẫn giữ nguyên nét vàng son lộng lẫy một thời, góp phần làm cho các di tích ở cố đô Huế bớt đi vẻ u buồn, sầu lắng, và đặc biệt hơn là còn góp phần đưa quần thể di tích cố đô Huế trở thành di sản văn hóa của thế giới vào năm 1993. Đây chính là nét đặc sắc và đặc biệt của pháp lam Huế so với pháp lam của các nước trên thế giới.

         Bên cạnh thành tựu nổi bật trong việc ứng dụng pháp lam trang trí cho các công trình kiến trúc cung đình, pháp lam Huế thời bấy giờ cũng được ứng dụng nhiều trong việc sản xuất các đồ gia dụng, đồ tế tự và cả đồ lưu niệm dùng trong hoàng cung. Ngày nay, tại Bảo tàng Mĩ thuật Cung đình Huế vẫn còn lưu giữ khoảng 100 hiện vật pháp lam Huế được chế tác theo lối này. 

       Đáng chú ý, đồ pháp lam Huế còn được phát hiện có mặt tại một số bảo tàng lớn ở Châu Âu như Bảo tàng Dân tộc học Berlin (Đức), Bảo tàng Dân tộc học Muenchen (Đức), Bảo tàng Mỹ thuật Rennes (Pháp)... và cả trong những bộ sưu tập của một số nhà sưu tầm cổ ngoạn trên thế giới.

      Dựa vào các kết quả nghiên cứu có thể nhận thấy rằng, kĩ nghệ pháp lam Huế ra đời vào năm 1827, phát triển mạnh vào các triều vua Minh Mạng (1820 - 1841), Thiệu Trị (1841 - 1847) và Tự Đức (1848 - 1883). Đến thời vua Đồng Khánh (1885 - 1889) thì sa sút dần rồi mất hẳn. 

       Như vậy, tính tổng thể từ khi xuất hiện cho đến lúc suy tàn rồi mất hẳn, pháp lam Huế chỉ tồn tại trong khoảng 60 năm. Thời gian tuy ngắn nhưng cũng đã kịp để lại những dấu ấn đáng nể, góp phần không nhỏ trong việc định hình dấu ấn văn hóa, mỹ thuật của một triều đại.

 Nguồn:  Tư Liệu sưu tầm

   Trân Trọng.

 

 

 

 

 

 

 

 

Cảm nhận từ độc giả

Sách cùng tác giả

Có thể bạn quan tâm

Mời bạn thảo luận hoặc đánh giá về sản phẩm này