Hát Bội, Đờn Ca Tài Tử Và Cải Lương Cuối Thế Kỷ 19 Đầu Thế Kỷ 20

Dịch giả: Lê Anh Minh
Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa - Văn Nghệ
Trọng lượng (gr):180
  • Giá bìa: 45.000 đ
  • Tại Sách Khai Tâm: 36.000 đ
  • Tiết kiệm: 9.000 đ (20%)

Giá trị & dịch vụ cộng thêm:

  •  Bookmark miễn phí
  • Giao hàng miễn phí cho đơn hàng từ 200.000 đ (nội thành HCM) và từ 500.000 đ (ngoại thành HCM/ Tỉnh) 
  • Với mỗi 90k trong đơn hàng, quý khách được tặng 1 
  • Bao đọc sách hay, đổi ngay nếu dở (chi tiết)
  •  Bao sách miễn phí nếu có yêu cầu
Trên hành trình mở cõi Phương Nam lưu dân Việt đã mang theo mình một hành trang văn hóa. Hành trang đó là niềm hoài vọng cố hương, là nỗi khát khao đổi đời, và lẽ đương nhiên, trong đó các yếu tố văn hóa tinh thần luôn là dấu ấn sâu sắc và mạnh mẽ.

Dấu ấn đó là dòng âm nhạc dân gian với những câu hò, điệu lý miền Trung man mác lời tự tình dân tộc; là dòng Nhạc lễ dân gian luôn gắn bó vòng đời cá nhân với phong tục tập quán của cộng đồng; là dòng âm nhạc cổ điển thính phòng đờn ca Huế vừa tao nhã và sang trọng; là Nhã nhạc cung đình đậm tính chất bác học đã được các nhạc quan, nhạc công dày công gìn giữ dù chế độ phong kiến dần đến chỗ suy tàn; còn là dòng sân khấu hát bội cung đình đã lan tỏa ra đời sống dân gian trở thành một phần quan yếu trong các lễ Kỳ yên ở đình, miễu.

Tất cả nghệ thuật âm nhạc và sân khấu nói trên đã hội tụ ở vùng đất thiên nhiên phóng khoáng, con người năng động luôn có ý thức bảo tồn tục xưa, nếp cũ nhưng cũng sẵn sàng tiếp nhận, dung hợp để rồi cải biến và sáng tạo thêm. Khi công cuộc khẩn hoang lập ấp hoàn thành thì các loại hình nghệ thuật mang đặc trưng ngôn ngữ, lối sống, tính cách và tầm hồn của con người Nam bộ đã hình thành và phát triển với một sức sống vô cùng mãnh liệt. Đó là hát bội, đờn ca tài tử và cải lương.

Các loại hình nghệ thuật nói trên đã được sáng tạo, nuôi dưỡng, phổ biến bởi các trí thức Nho học, Tây học, những nghệ nhân, nhạc sĩ tài hoa và những “mạnh thường quân” ham chuộng nghệ thuật. Nhờ vậy, không bao lâu âm nhạc và sân khấu Nam bộ đã lan truyền khắp vùng Nam bộ. Và từ nửa đầu thế kỷ XX đến nay, các loại hình nghệ thuật này không chỉ dành cho công chúng thưởng thức mà còn là đối tượng nghiên cứu của các nhà Nhạc học, Nghệ thuật học, Văn hóa học, Sử học... trong nước và nước ngoài.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên - Giảng viên của trường Đại học Quốc gia Úc (The Australian National University) đã làm một cuộc hành trình tìm về nghệ thuật Nam bộ qua tác phẩm Hát Bội, Đờn Ca Tài Tử Và Cải Lương Cuối Thế Kỷ 19 Đầu Thế Kỷ 20 hợp soạn cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp (Australia). Ngoài sự kế thừa các công trình nghiên cứu trong nước, hai tác giả còn tiếp cận được một nguồn tài liệu đáng tin cậy hiện được lưu trữ tại Bảo tàng và Thư viện ở Paris (Pháp). Chính nhờ nguồn tài liệu này mà các thời điểm lịch sử quan trọng đánh dấu sự định hình và phát triển của hát bội, đờn ca tài tử và cải lương dần được hé mở bởi những bằng chứng xác thực.

Báo chí giới thiệu

Đờn ca tài tử Nam bộ: một thế kỷ nội địa hoá và phổ thông hoá

Ngày 27.9, cuốn Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (Phương Nam Book & NXB Văn Hoá – Văn Nghệ TP.HCM, 2013) của Nguyễn Lê Tuyên – Nguyễn Đức Hiệp sẽ được phát hành.

Lấy ngày sinh của nữ nghệ sĩ balê Cléo de Mérode (27.9.1875 – 17.10.1966) làm cột mốc phát hành sách về nghệ thuật bản địa Việt tất phải có duyên cớ đặc biệt. Bởi nhờ điệu múa của nữ minh tinh này tại hội chợ thế giới Paris năm 1900 mà đờn ca tài tử Nam bộ mở được đường ra quốc tế từ rất sớm.

Đờn ca tài tử là đứa con nội sinh của văn hoá Nam bộ nửa cuối thế kỷ 19, được cho là kết quả cuộc hôn phối giữa nhã nhạc – nhạc tài tử cung Huế với âm nhạc dân gian – dân ca Trung bộ, Nam bộ.

Nếu nhã nhạc – nhạc tài tử cung Huế chuộng tính hàn lâm, thính phòng, với chủ đề thanh lịch, trang nghiêm, bay bướm… thì đờn ca tài tử Nam bộ lại chuộng yếu tố bình dân, trần trụi, đại chúng, với chủ đề thiên về nỗi lòng, sự giãi bày và tình cảm đời thường. Chơi đờn ca tài tử có thể ba, bốn, năm nhạc công, mà ít hơn hay nhiều hơn cũng chả sao; nhạc công có thể cởi trần, ngồi bờ ruộng, gốc cây và say sưa tuý luý! Ban đầu chỉ có đờn, thường song tấu, tam tấu và cả hoà tấu nhóm, sau kết hợp thêm ca nên gọi là “đờn ca”. Còn “tài tử” là từ chỉ những người có tài riêng, mà thường là về biểu diễn cổ nhạc, về văn hoá văn nghệ.

Các định nghĩa trong vài từ điển gần cùng thời như Đại Nam quấc âm tự vị (in năm 1895 và 1896) của Huình Tịnh Paulus Của, Hán – Việt từ điển giản yếu (thập niên 1930) của Đào Duy Anh, Việt Nam tự điển của hội Khai trí Tiến đức… đều định nghĩa xoay quanh “người có tài”. Trước đó, Nguyễn Du cũng viết “dập dìu tài tử giai nhân”, Nguyễn Công Trứ thì “tài tử với giai nhân tế ngộ nan”…

Nửa cuối thế kỷ 19, Nam bộ vẫn đất rộng người thưa, giang hồ tứ xứ đến đây gác kiếm làm ăn, nên âm nhạc cũng phải thoải mái, dễ dàng, bài bản cứng nhắc quá e không hợp. Hơn nữa, trong hành trình về phương Nam, bên cạnh việc mở đất và chung sống, đây cũng là cuộc chung đụng về văn hoá, tâm linh và cả tự tình, triết lý. Có vài sử liệu cho rằng đờn ca tài tử do các nhạc sư gốc Trung kỳ sáng tạo nên hồi cuối thế kỷ 19, với mục đích chơi cho hợp bối cảnh sống mới. Họ gồm Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi, một quan về âm nhạc của triều Nguyễn), Lê Tài Khị (tức Nhạc Khị) và Trần Quang Quờn (tức thầy ký Quờn).

Theo GS.TS Trần Văn Khê, đờn ca tài tử Nam bộ đã được giới thiệu với UNESCO từ những năm đầu thập niên 1960. Chính UNESCO Collection đã phát hành đĩa nhạc theo thể loại đờn ca tài tử Nam bộ, gồm 11 bài, với tựa Viet Nam – Traditions of the South… Cuốn sách Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cũng đã chỉ ra cho thấy loại hình âm nhạc đại chúng này đã thu hút người Pháp từ đầu thế kỷ 20. Ngay tại hội chợ thế giới Paris năm 1900, lúc tài tử Nguyễn Tống Triều cùng ban nhạc tài tử được mời sang biểu diễn và hoà tấu cho Cléo de Mérode múa, nhà nhạc học Julien Tiersot đã ký âm Vũ khúc Đông Dương – được xem là bản ký âm đầu tiên của đờn ca tài tử trên năm dòng kẻ theo kỹ thuật thanh nhạc Tây phương. Chính sự kiện này đã thu hút vài nhà soạn nhạc lớn, ví dụ Claude Debussy (1862 – 1918), người có nhiều tác phẩm chịu ảnh hưởng bởi hát bội, đờn ca tài tử.

Nếu mọi việc suôn sẻ, đầu tháng 12 tới UNESCO sẽ công nhận đờn ca tài tử là di sản văn hoá phi vật thể nhân loại. Vậy là sau hơn một thế kỷ nội sinh và phát triển, chính việc phổ thông hoá nhạc bác học, hàn lâm mà đờn ca tài tử phổ biến rộng rãi trong đời sống bình dân của người Nam bộ.

Hiền Hòa

Theo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 20/09/2013

Cảm nhận từ độc giả

Sách cùng tác giả

Có thể bạn quan tâm

Mời bạn thảo luận hoặc đánh giá về sản phẩm này